Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

Thanh Nga và Tiếng trống Mê Linh

 Nói về diễn xuất trong cải lương thì Thanh Nga số 2 không ai dám nhận số 1.




Thanh Nga đâu chỉ có nhan sắc mỹ nhân mà còn là bậc thầy diễn xuất sân khấu, diễn xuất thần, diễn như chính mình là nhân vật, diễn đến nổi da gà người xem, diễn tới mức khiến khán giả quên mất đó là Thanh Nga, cứ ngỡ đó chính là nhân vật thật sự ở ngoài, diễn tinh tế đến từng ánh mắt, cử chỉ, hành động.
Hãy nhìn ánh mắt của Thanh Nga khi diễn vai Trưng Trắc trong vở Tiếng trống Mê Linh, một ánh mắt buồn miên man, sâu thẳm, chất chứa nỗi sầu nhân thế, dân tộc, ánh mắt nhiều suy tư, ẩn ức, uất hận non sông...
Chưa một ai diễn ra được ánh mắt này.

Thanh Nga và Dương Vân Nga

 Thực ra vai diễn kinh điển, xuất sắc nhất của Thanh Nga không phải Trưng Trắc trong Tiếng trống Mê Linh mà là vai Thái hậu Dương Vân Nga. Và đó cũng là vai diễn khó bậc nhất lịch sử sân khấu Việt Nam từ trước tới nay, chưa một ai chạm tới level diễn xuất của Thanh Nga.



Ở vai diễn này, Thanh Nga diễn như lên đồng, diễn như được Tổ nghề nhập, diễn như chính nhân vật lịch sử bước ra, diễn với cái thần, chất sử thi hiếm có, từ ánh mắt tới giọng nói, giọng hát, cử chỉ, diễn mà ôm trọn được lòng yêu non sông đất nước, tinh thần dân tộc, hào khí chống ngoại xâm hào hùng, sừng sững, ôm cả bầu trời nước Nam vào mình. Ở Thanh Nga toát ra vầng hào quang sáng ngời.

99% khán giả từng xem Thanh Nga diễn vai này phải thốt lên rằng họ nổi da gà, sởn hết gai ốc, như được quay về lịch sử hàng trăm năm trước để chứng kiến Thái hậu Dương Vân Nga bằng xương bằng thịt.

Các đàn em tài năng như Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Mỹ Châu, Kim Hương... cũng diễn lại nhưng đều không bằng được Thanh Nga,

Chỉ tiếc rằng vở diễn chưa kịp thu hình thì Thanh Nga bị amsat. Một mất mát lớn với nghệ thuật cải lương dân tộc. 

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

Những kiểu ca sĩ nào dễ mất giọng?

 Những kiểu ca sĩ nào dễ mất giọng?



1. Ca sĩ có giọng đẹp. Giọng đẹp với các tính chất như mềm mại, êm ái, ấm áp, đầy đặn, có độ xốp, soft rất khó giữ. Ca sĩ thường chỉ sở hữu nó trong một giai đoạn tuổi trẻ của mình và dù hát kĩ thuật thế nào thì vẫn cứ mất đi âm sắc đẹp đó ở tuổi trung niên. Điển hình các mẹ giọng đẹp nhưng mất sớm như Whit, Moo, Lara, Aretha, Mỹ Linh, Hồng Nhung...

Các mẹ giọng xấu thì vốn đã xấu sẵn nên chẳng còn gì để mất, càng hát càng khủng, âu cũng là luật bù trừ cho các mẹ ấy, âm sắc chua chói, đanh luôn có khả năng trường tồn cùng thời gian. Điển hình như Patti, JenHud, JenHo, Yolanda, Tiffany Mosley, Keke, Chaka, Tina Turner... và hằng hà sa số mẹ da màu xôi thịt khác có chất giọng tối và đanh. Bởi vậy, đừng bất ngờ khi Chaka 70 tuổi vẫn F5 ầm ầm hay Tina Turner 70 tuổi vẫn đàn áp Beyonce tới bến.

2. Giọng nữ cao dễ mất giọng hơn so với nữ trung, nữ trầm, có lẽ vì phải hát với tần số rung lớn của dây thanh trên quãng cao. Với lại, theo tuổi tác thì giọng con người sẽ trầm xuống nên nữ cao về già mất đi quãng cao, âm sắc thanh mảnh là đương nhiên.

Trong opera xảy ra hàng loạt nữ cao mất giọng thành nữ trung chứ nữ trung, nữ trầm thì hát chục năm vẫn thế chứ chẳng thấy hề hấn gì. Càng già các mẹ ấy càng khủng :v Điển hình là mợ Moon Ju Ran, Hibari Misora... Còn con mẹ Xtina vs Whitney đang từ nữ cao mất giọng cái thành nữ trung luôn.

Đặc biệt, các mẹ nữ trầm là các mẹ giữ giọng tốt nhất và càng hát càng ngọt. Trước giờ chưa thấy mẹ nữ trầm nào mất giọng luôn. Đến như Toni Braxton hát sai kĩ thuật, rượu chè thuốc lá bê tha, giọng đẹp lộng lẫy, đau khổ các kiểu vẫn giữ giọng tốt chán.

3. Hát nhiều dễ mất giọng hơn hát ít, hiển nhiên. Đừng hỏi vì sao các mẹ Gospel giữ giọng tốt, vì các mẹ ấy có phải đi tour đi show ngập hành như Moo, Whit, Aretha đâu.

4. Hát sai kĩ thuật, rượu chè thuốc lá nghiện ngập không phải nguyên nhân lớn làm mất giọng như người ta vẫn nghĩ. Trên thực tế, một đống ca sĩ hát sai kĩ thuật, thuốc lá rượu chè vẫn giữ được giọng.

Nổi tiếng sớm là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến mất giọng. Khi nổi tiếng sớm, ca sĩ phải hát cật lực, đi tour nhiều, hát không ngừng nghỉ trong khi thanh quản chưa ổn định nên chắc chắn mất giọng sớm. Mariah Carey, Whitney là trường hợp điển hình.

Ở Việt Nam, Hương Tràm là điển hình của việc phải đi hát nhiều vì nổi tiếng sớm, cộng thêm việc gào nhiều nên giọng tối và trầm hẳn sau vài năm. Hồi The Voice, giọng Hương Tràm sáng và nhẹ nhàng hơn còn bây giờ tối và năng hơn.

Nhiều ca sĩ tới ngoài 30 gần 40 mới nổi tiếng nên giữ giọng rất tốt, vì lúc đó thanh quản của họ đã ổn định và chịu được việc hát nhiều, hát ở cường độ cao.

5. Cơ địa tốt, thể lực tốt giữ giọng tốt hơn. Đó là lí do vì sao các mẹ opera toàn tập điền kinh, bơi lội và mẹ nào cũng to béo xôi thịt. Chỉ cần sức khỏe yếu đi là giọng lập tức ra đi, như Maria Callas.

Bởi thế, đừng thấy mất mẹ da màu gào nhiều, gằn nhiều không mất giọng rồi học theo, cơ địa các mẹ ấy trâu bò, cổ họng cấu tạo khác, gằn thoải mái chẳng xỉ nhê. Người Á Đông yếu ớt thấy da màu gằn giọng cũng gằn theo rồi mất giọng cả đống.

Regine Velasquez là con mẹ hát sai kỹ thuật, chuyên gào rú note cao, strain tóe loe nhưng đến giờ vẫn cứ gào. Dù anti fan chửi mẻ lên xuống, trù cho mẻ mất giọng thì mẻ vẫn trường tồn, đơn giản vì giọng mẻ xấu hoắc và cơ địa trâu bò thì còn lâu mới mất. Mẻ chấp mọi định luật về hát đúng kĩ thuật sẽ giữ được giọng.

LONG PHẠM

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

TỔNG QUAN VỀ TỪ GHÉP TIẾNG VIỆT

 


HÔM QUA CÓ NGƯỜI HỎI VỀ TỪ GHÉP NÊN POST BÀI NÀY

Theo Đỗ Hữu Châu, “từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) riêng rẽ, tách biệt, độc lập với nhau”.

Hiểu một cách đơn giản, từ ghép là từ được tạo ra từ phương thức ghép. Đây là phương thức “dùng hai hoặc hơn hai đơn vị câu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những quy tắc nhất định để cho một từ, được gọi là từ ghép”. Nói cách khác, “các từ tố cơ sở đi vào phương thức ghép cho các từ ghép”

Cũng theo Đỗ Hữu Châu, “Ở tiếng Việt, các hình vị riêng rẽ, tách biệt, không đối lập với nhau theo kiểu của các ngôn ngữ Ấn – Âu thành căn tố, phụ tố mà chỉ phân biệt với nhau thành hình vị thực và hình vị hư. Cho nên, trong tiếng Việt chỉ có các từ ghép chân chính. Nếu căn cứ vào tính chất hình vị thì các từ ghép của tiếng Việt được phân loại thành từ ghép thực và từ ghép hư. Từ ghép hư là từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có. Đó là các từ như bởi vì, cho nên, để mà, huống hồ…”.

Ở các từ ghép hư, không thể xác lập rõ ràng quan hệ cú pháp giữa các hình vị trong từ như với từ ghép thực nên khó mà tìm hiểu mặt kết học giữa chúng. Ngược lại, các từ như “đi” với “chạy” vốn là thực từ nên dù kết hợp với kiểu hình vị nào cũng có thể tìm hiểu mặt kết học, quan hệ ngữ pháp của chúng.

Trong đó, “nếu căn cứ vào ba loại âm tiết kí hiệu theo giáo sư Phan Ngọc: A độc lập, B không độc lập, không đơn nhất, C không độc lập, đơn nhất, mất nghĩa thì có thể có các kiểu từ ghép như sau:

AA: đi đứng, chạy nhảy…
AB: tàu thủy, bạn hữu…
AC: trắng nõn, diều hâu, ốc bươu, bếp núc, chợ búa…
BA: hữu tình, bách bệnh, thiện ý, nóng hổi…
BB: đặc ngữ, phi hành…”

Mặc dù có những từ ghép ba, ghép bốn, hoặc hơn nữa, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn là ghép hai từ tố cơ sở. Đây cũng là từ ghép phổ biến, điển hình của “đi” và “chạy” khi kết hợp với các từ tố khác. Ví dụ: đi chợ, đi buôn, đi cày, chạy bàn… Từ ghép có hai từ tố cơ sở có thể có ba âm tiết như: tắc kè đốm, bồ câu trắng, thiên nga trắng, cà phê chồn…

Từ ghép chính phụ

Từ ghép chính phụ là “những từ ghép giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ. Nếu kí hiệu từ tố chính là X, từ tố phụ là Y thì từ tố phụ có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố X”

Theo Đỗ Hữu Châu, “theo chiều quan hệ chính phụ giữa X và Y, ta có trật tự xuôi nếu X ở trước, Y ở sau, trật tự ngược nếu Y ở trước, X ở sau. Theo đặc điểm độc lập, không độc lập, có nghĩa, không có nghĩa, mất nghĩa, đơn nhất, không đơn nhất thì cũng có loại từ ghép AA, AB, AC, BA, BB. Trừ các từ ghép chính phụ AC bao giờ cũng có trật tự xuôi như: xanh lè, tím ngắt, nhảy cẫng… các loại từ ghép còn lại đều có hai trật tự xuôi và ngược”. Các trật tự này gồm có:

- Ghép chính phụ AA trật tự xuôi: đi đêm, đi tết, đi buôn, đi chợ…
- Ghép chính phụ AA trật tự ngược: học trò, chua me…
- Ghép chính phụ AB trật tự xuôi: giải lao, hưởng lạc, cưới chạy…
- Ghép chính phụ AB trật tự ngược: thánh thư, tội nhân, chạy án, đi hội…
- Ghép chính phụ BA trật tự xuôi: lưu khách, lâm trận…
- Ghép chính phụ BA trật tự ngược: hậu phương, tha phương…
- Ghép chính phụ BB trật tự xuôi: thưởng nguyệt, đa ngữ…
- Ghép chính phụ BB trật tự ngược: bán kết, chung kết…

Các từ ghép chính phụ có thể lớn hơn hai âm tiết, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn do hai từ tố đơn âm tạo nên. Đây cũng là kiểu ghép chính phụ phổ biến ở “đi” và “chạy”.

Có các kiểu từ ghép chính phụ hai âm tiết như sau:

a. Từ ghép chính phụ phân nghĩa

Đây là “những từ ghép chia loại lớn thành những loại nhỏ có quan hệ bao gồm và nằm trong so với loại lớn”. Nói cách khác, “phân nghĩa là cơ chế tạo ra các từ ghép theo quan hệ chính phụ giữa các từ tố, lập thành từng hệ thống nhỏ đồng nhất về yếu tố chỉ loại lớn X cả về hình thức ngữ âm, cả về ngữ nghĩa”.

Có bốn kiểu ghép phân nghĩa là:

- Từ ghép phân nghĩa biệt loại: là “những từ ghép phân nghĩa thường gặp và có tính năng sản cao, có nghĩa là kiểu cấu tạo của chúng hiện đang có khả năng tạo hàng loạt những từ ghép chính phụ mới phục vụ cho giao tiếp xã hội”. Đây cũng là loại ghép phân nghĩa điển hình, “trong đó Y có vai trò phân hóa X thành những loại nhỏ”. Ví dụ như chạy thầy, chạy chợ, chạy bàn…

- Từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa: là loại từ ghép mà “các từ tố phụ Y là các âm tiết C có tác dụng chỉ các sắc thái khác nhau của tính chất hay trạng thái, hoạt động do từ tố chỉ loại lớn X biểu thị”. Ví dụ như xanh lè, xanh um, vàng khè, vàng chóe…

- Từ ghép phân nghĩa đẳng nghĩa: là loại từ ghép mà “nghĩa của từ tố X và từ tố Y có phần nào đó đồng nghĩa với nhau”. Ví dụ như bánh ga tô, kẹo mè sửng, hoa cúc, cá rô, rắn cạp nong…

- Từ ghép phân nghĩa phụ gia hóa: là loại từ ghép “được chia thành những kiểu nhỏ hơn, mỗi kiểu nhỏ hơn có cùng một từ tố nghĩa rất khái quát”. Ví dụ như tổ trưởng, tổ viên, phi chính phủ…

b. Từ ghép chính phụ biệt lập

Đây là loại từ ghép mà “nghĩa của mỗi từ không có quan hệ nằm trong so với nghĩa của một loại lớn nào, không hợp thành hệ thống nghĩa so với những từ ghép chính phụ khác. Trong những từ ghép này, tuy vẫn có từ tố chính X, nhưng X không phải là một loại lớn”. Ví dụ như ruột gà, ruột mèo, ruột tượng…

c. Từ ghép chính phụ có các từ gốc Hán Việt

Loại từ ghép này khá phổ biến trong tiếng Việt. Ví dụ: đa nghĩa, đa ngữ, phi phàm, phi hành…

Từ ghép đẳng lập

Từ ghép đẳng lập là “những từ ghép trong đó hai từ tố bình đẳng với nhau, không có từ tố nào là chính, từ tố nào là phụ, cả hai từ tố góp nghĩa với nhau để cho nghĩa mới của toàn từ ghép”.

Trong đó, “xét theo tính chất độc lập, không độc lập, có nghĩa, mất nghĩa, đơn nhất, không đơn nhất thì các từ ghép đẳng lập có đủ các kiểu AA, AB, BA, AC và BB”. Ví dụ:

- Từ ghép đẳng lập AA: đi đứng, chạy nhảy, đi lại…
- Từ ghép đẳng lập AB: bạn hữu, thời đại…
- Từ ghép đẳng lập BA: quy hoạch, quy mô…
- Từ ghép đẳng lập AC: bếp núc, chợ búa…
Căn cứ vào nguồn gốc từ loại và quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ tố, có thể phân từ ghép đẳng lập thành các nhóm:
- Từ ghép đẳng lập gốc danh từ: bạn hữu, phố xá, bếp núc…
- Từ ghép đẳng lập gốc động từ: đi lại, chạy nhảy…
- Từ ghép đẳng lập gốc tính từ: chậm trễ, đen tối, nóng nực…
- Từ ghép đẳng lập gốc chỉ số: vài ba, dăm bảy, tám chín…
- Từ ghép đẳng lập gốc từ hư: này kia, này nọ, đây đó…
Ngoài ra, còn có các loại từ ghép đẳng lập:

a. Ghép đẳng lập theo cơ chế nghĩa

Theo Đỗ Hữu Châu, “nếu cho nghĩa của toàn bộ từ ghép là S thì nghĩa S của một từ ghép đẳng lập không do nghĩa của một từ tố quyết định như nghĩa của từ ghép biệt loại mà là kết quả của sự hợp nhất nghĩa của từng từ tố mà có”. Kết quả của sự hợp nghĩa cho ra ba loại từ ghép theo cơ chế nghĩa như sau:

- Ghép tổng loại: là “nghĩa của từng từ tố gộp lại tạo nên S, S chỉ một loại lớn hơn, rộng hơn". Ví dụ như anh em, cam quýt, hổ báo…

- Ghép đẳng lập chuyên loại: là “nghĩa S của toàn bộ từ ghép đẳng lập khồng lớn hơn về loại so với loại do từ tố biểu thị”. Ví dụ như thuốc thang, gà qué, chợ búa…

- Ghép phối nghĩa: là “những trường hợp mà nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại mà do sự phối hợp nghĩa của các từ tố mà thành”. Ví dụ như gang thép, điện máy, điện nước…

b. Ghép đẳng lập biệt lập

Đây là loại từ ghép mà “nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại, cũng không phải là phối nghĩa. Mỗi nghĩa là một sự kiện, một hoạt động, một tính chất riêng”.

Cơ chế từ loại từ ghép này theo chúng tôi là A+B = A’B’. Ví dụ như: gian ác, độc ác, gian xảo…

Các thế hệ từ ghép

Các kết hợp từ ghép luôn vận động, biến đổi không ngừng trong hoạt động hành chức để sinh ra những thế hệ từ tiếp theo của chúng. Thế hệ cấu tạo từ ghép được hiểu là “các từ tố kết hợp với nhau cho ta một từ phức thuộc thế hệ thứ nhất. Các từ này lại được đưa vào phương thức đã sản sinh ra chúng để cho ta các từ ghép thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba từ các từ thuộc hệ thứ nhất đó”.

Ví dụ, từ tố “xe” kết hợp với từ tố “đạp” cho ta từ ghép “xe đạp” thuộc thế hệ thứ nhất. “Xe đạp” lại được đưa vào phương thức ghép chính phụ biệt lập cho ta các từ thuộc thế hệ thứ hai như xe đạp điện, xe đạp đua, xe đạp cào cào…

LONG PHẠM