Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Nhạc Trịnh qua tiếng hát người Nhật - giúp chúng ta tự hào

 

Người Nhật hát nhạc Trịnh khiến ta hiểu hơn về giá trị của nhạc Trịnh, từ tầm vóc âm nhạc đến văn hóa, lịch sử nghệ thuật…

Nhật Bản là đất nước mở cánh cửa đón nhận nhạc Trịnh một cách nồng hậu nhất. Sự đón nhận này không đến từ quảng bá hay bất cứ mô hình giao lưu văn hóa quốc gia nào, mà diễn ra tự nhiên, xuất phát từ chính nhu cầu thưởng thức của thị trường, khán giả.

Nhạc Trịnh qua tiếng hát người Nhật  - giúp chúng ta tự hào - Ảnh 1.

Nghệ sĩ Tokiko Kato

TL

Cần biết rằng, Nhật Bản là thị trường âm nhạc lớn thứ hai thế giới, nơi hội tụ của hầu hết loại hình âm nhạc đến từ khắp nơi. Bản thân người Nhật cũng sành sỏi, có gu thưởng thức cao và am hiểu văn hóa, nghệ thuật. Bởi vậy, để âm nhạc từ một quốc gia như VN chen được vào thị trường sôi động, tấp nập này là điều vô cùng khó khăn.

Những giao cảm khiến người Nhật say mê

Từ đầu thập niên 1970, Khánh Ly đã được mời sang Nhật để trình diễn nhạc Trịnh. Trong những năm về sau, người Nhật thường xuyên mời Khánh Ly đến biểu diễn, thu âm, phát hành CD nhạc Trịnh, thậm chí lên hẳn sóng truyền hình quốc gia, tới mức bà phải thừa nhận không nhớ nổi đã đến Nhật bao nhiêu lần.

Người Nhật tỏ ra vô cùng trân trọng nhạc Trịnh, khiến Khánh Ly cũng phải bất ngờ. Bà nói: "Bản thân tôi ngạc nhiên, tôi không nghĩ mình được đón tiếp nồng hậu như vậy. Tôi hãnh diện, sung sướng vì qua ông Trịnh Công Sơn mà tôi được người ta biết đến". Hãng đĩa và đài truyền hình Nhật còn cho người bay sang Mỹ để tìm gặp Khánh Ly và thu âm nhạc Trịnh, tại phòng thu nổi tiếng. 

Album nhạc Trịnh phát hành tại Nhật từng bán tới 2 triệu bản, một kỷ lục chưa nhạc sĩ hay ca sĩ VN nào đạt được. Ca khúc Diễm xưa nổi tiếng tới mức được phổ tiếng Nhật cho nhiều ca sĩ Nhật thể hiện. Diễm xưa còn được đưa vào chương trình giáo dục về môn văn hóa Việt tại một trường đại học ở Nhật Bản. Trường đại học Kansai Gakuin cũng có một cuốn sách viết về bài Diễm xưa, kèm theo DVD. Cũng có cả luận án tiến sĩ của nhà nghiên cứu người Nhật về nhạc Trịnh Công Sơn.

Ðạo diễn Nhật Hideo Kado còn làm phim về Khánh Ly và nhạc Trịnh. Sau khi bộ phim công chiếu, cuốn sách viết riêng cho Khánh Ly cũng được xuất bản.

Sở dĩ người Nhật mê nhạc Trịnh đến vậy vì họ tìm thấy sự giao cảm từ giai điệu tới tâm hồn. Văn hóa Nhật gắn với "đạo", tức là nhìn nhận vạn vật trong cuộc sống với sự nghiền ngẫm, suy tưởng, thiền tịnh của cái tâm an nhiên (như trà đạo, thơ Haiku, bonsai, nghệ thuật vườn cảnh…).

Vì vậy, người Nhật muốn nghe những thứ nhạc mang giai điệu mộc mạc, bằng phẳng, giản đơn, không trúc trắc, lên xuống, phức tạp, như nhạc Trịnh, để thiền tịnh tâm hồn, suy ngẫm nhân sinh. Với nhạc Trịnh, chỉ cần thanh âm cất lên cũng mở ra không gian "đạo" đúng chất Nhật.

Phần ca từ sâu sắc, giàu triết lý, đặc biệt thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nguyên thủy và tính hiện sinh chủ nghĩa trong nhạc Trịnh cũng rất hợp với tính cách, văn hóa, gu thưởng thức của người Nhật giai đoạn bấy giờ.

Nếu liên hệ, có thể thấy nhạc Trịnh (cũng như nhạc của Bob Dylan) có đôi nét khá tương đồng với văn học của Murakami Haruki, đặc biệt ở sự cô đơn, trống rỗng, nỗi buồn thế hệ và những hình ảnh siêu thực. Ðó chính là xúc cảm của thế hệ khán giả Nhật thập niên 60, 70 thế kỷ trước mà họ tìm thấy được ở nhạc Trịnh.

Nhạc Trịnh qua tiếng hát người Nhật

Trên thực tế, người Nhật chủ yếu nghe nhạc Trịnh qua tiếng hát Khánh Ly vì ăn sâu vào tiềm thức họ, nên không nhiều ca sĩ người Nhật hát nhạc Trịnh. Có một điều đặc biệt là đa số ca sĩ Nhật hát nhạc Trịnh cũng đều là những giọng ca nữ (tương tự ở VN), cho thấy rõ chất "âm tính" của nhạc Trịnh, thứ âm nhạc dành riêng cho cái đẹp.

Trong số những người Nhật từng hát nhạc Trịnh thì cái tên Michiko Yoshii gây chú ý nhiều nhất vì bà không phải ca sĩ mà chính là người có tình cảm sâu nặng với Trịnh Công Sơn và ông cũng vậy.

Michiko Yoshii đến với Trịnh Công Sơn ban đầu bằng lòng ngưỡng mộ của một người yêu văn hóa, ngôn ngữ, âm nhạc VN. Cả hai dành cho nhau một tình yêu trong sáng, thuần khiết và sâu nặng. Sợi dây gắn kết họ chính là đồng điệu văn hóa, âm nhạc. Tuy không đi đến cái kết viên mãn nhưng mối tình dang dở vẫn để lại những ký ức đẹp trong lòng Michiko Yoshii.

Vì là người gắn bó với Trịnh Công Sơn và nghiên cứu khoa học về nhạc Trịnh nên Michiko Yoshii hiểu nó hơn bất cứ ai, lại thêm trái tim tràn ngập tình yêu. Bởi vậy, bà hát nhạc Trịnh trong sự đắm say, tha thiết, gửi gắm trọn tâm hồn, suy tư bao quát và cả những xúc cảm riêng tư chỉ bà mới có.

Tokiko Kato là nhà soạn nhạc, nhà thơ và ca sĩ có tiếng tại Nhật. Bà nghe nhạc Trịnh từ năm 1970 và quá mê tới mức nhận Khánh Ly làm chị em kết nghĩa. Bà cũng từng đến thăm Trịnh Công Sơn tại nhà, viết lời Nhật cho một số ca khúc nhạc Trịnh, nổi bật nhất là Diễm xưa.

Sở dĩ Tokiko Kato đồng điệu với nhạc Trịnh vì bà là nghệ sĩ thuộc âm nhạc hiện sinh chủ nghĩa thập niên 1960 (hát nhạc phản chiến, dòng folk, phong cách du ca). Cả Tokiko Kato và Trịnh Công Sơn đều thấu hiểu nỗi đau, mất mát của chiến tranh nên say mê hát nhạc phản chiến, lấy những giai điệu folk cội nguồn làm chủ đạo và chỉ ôm cây guitar hát du ca.

Nhạc Trịnh được Tokiko Kato thể hiện với sự mộc mạc, trong sáng, nhẹ nhàng và phóng khoáng để tôn vinh hòa bình, yêu thương, đề cao tự do, quay về tự nhiên. Bởi vậy, nghe Tokiko Kato hát nhạc Trịnh sẽ cảm thấy dễ chịu, thư thái như nằm trên cánh đồng dưới bầu trời xanh trong.

Shimazu Aya và Tendo Yoshimi thuộc thế hệ sau nhưng lại có những bản thu nhạc Trịnh hoàn chỉnh, với phần hòa âm phối khí chuyên nghiệp, đầu tư, thiên về nhạc cụ dân tộc truyền thống. Họ cũng hát nhạc Trịnh với phong cách mãnh liệt, cao trào hơn. Cả hai từng song ca với nhau và nếu Tendo Yoshimi gây ấn tượng bởi giọng nữ trung trầm dày, nội lực như Thanh Lam thì Shimazu Aya lại là nữ cao trong trẻo, tha thiết. Tiếng hát của họ góp phần đưa nhạc Trịnh đến đông đảo khán giả Nhật, với lối thể hiện rất riêng, đậm chất Nhật, thổi vào nhạc Trịnh màu sắc mới.

Những nghệ sĩ này khiến chúng ta hiểu hơn về giá trị đích thực của nhạc Trịnh, vượt khỏi ranh giới âm nhạc để vươn tầm văn hóa, lịch sử, nghệ thuật… 


Long Phạm

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt

 Lê Cát Trọng Lý không còn là cái tên quá xa lạ với khán giả Việt. Lý nổi tiếng đã gần 10 năm qua, cũng đi show, ra sản phẩm âm nhạc và được đón nhận nồng nhiệt.

Ở độ tuổi, vị trí và danh tiếng của Lý, những ca sĩ khác đều đã có nhà lầu, xe hơi, tiền bạc rủng rỉnh. Ai trong số họ cũng sống xa hoa, hào nhoáng, nhưng Lý thì không.

Nhiều khán giả vô cùng bất ngờ khi Lý nói rằng: "Tôi không giữ tiền đã hơn 10 năm nay. Tôi từ chối cầm tiền". Họ thương Lý, nghĩ rằng Lý khổ, Lý tủi. Nhưng Lý lại mãn nguyện với cuộc sống mình đang có vì: "Tôi hạnh phúc, vui vẻ".

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 1.

Quả đúng vậy. Nếu nhìn qua, ai cũng nghĩ Lý thiệt thòi, Lý cần được hưởng những thứ cao hơn. Nhưng nếu nghe, hiểu và thấu trọn về Lý, người ta sẽ thấy, Lý đang có một cuộc sống hạnh phúc bậc nhất showbiz – điều mà những ngôi sao khác chưa chạm tới được.

Cuộc sống giản đơn nhưng đàng hoàng, tử tế từ Phật pháp và tách rời tiền bạc

Lý là người theo đạo Phật. Lý theo Phật vì Lý hiền, Lý lành, Lý thích tĩnh tâm, tĩnh tại, không bon chen, không tham, sân, si. Phật của Lý là Phật giáo nguyên thủy, là những triết lí về lối sống và cách ứng xử với cuộc đời.

Lý từng nói: "Ngày nay, người ta đặt mục tiêu vật chất để kiếm tìm sự phát triển bản thân. Với tôi, những người chấp nhận như vậy là đủ đồng nghĩa chấp nhận thoái trào. Vì nghĩ thế nên tôi thích đạo Phật".

Lý không phủ nhận vật chất, nhưng Lý không lấy nó làm tham vọng hãnh tiến như nhiều người khác. Lý chỉ đơn giản muốn được sống thư thái, an nhiên. Lý hiểu rằng, mọi thứ đều phải theo vô thường, giàu có thế nào cũng hóa cát bụi.

Cho nên, Lý chọn cho mình chủ nghĩa giản đơn, từ đời sống đến âm nhạc. Nhạc của Lý hiền hòa, dễ chịu, không gai góc, trúc trắc, kịch tính, nó khơi dậy sự bình an trong lòng người. Lý nói:

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 2.

"Tôi đã thay đổi nhiều, cả về tư duy và âm nhạc. Tôi thấy, càng về sau mình càng viết nhạc theo lối đơn giản, tránh dùng các từ phức tạp.

Sau 12 năm làm nghề tôi nhận ra, nhu cầu cuối cùng của con người là được yêu thương, nên bài hát viết ra phải có tình cảm, cao siêu đến đâu mà không tình cảm cũng không còn được gọi là hay nữa".

Lý hoạt động showbiz cũng nhẹ nhàng, trầm lắng, không bon chen, không giành giật, không xô bồ. Và Lý nhận được hạnh phúc từ điều đó.

Trong khi nhiều ngôi sao phải chịu áp lực nổi tiếng, cạnh tranh, quan hệ đồng nghiệp, tiền bạc tới mức stress, trầm cảm, tự tử, dù có rất nhiều tiền bạc, thì mình Lý bình an với dòng chảy của mình.

Có những ca sĩ còn ít tuổi hơn cả Lý và giàu có, xa hoa hơn Lý, nhưng lại mắc phải nhiều hội chứng tự hành hạ mình do stress vì áp lực công việc.

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 3.

Lý như đang thiền ở một cõi riêng, với những người bạn mà Lý gọi là "đàng hoàng, tử tế", giữa một showbiz "không có tình bạn".

Trong đời sống, Lý giản đơn hết mức. Lý không biết ăn mặc cầu kì, diêm dúa, Lý không dùng đồ hiệu.

Tách rời tiền bạc, Lý gần như thoát khỏi toan tính, bon chen, sầu não và giữ cho tâm hồn mình thoải mái, vô tư nhất. Còn gì hạnh phúc hơn khi đầu óc sạch sẽ, tinh khiết, không bị vấy bẩn bởi tham, sân, si.

Đặc biệt, với một nghệ sĩ như Lý, khi không còn áp lực tiền bạc, sẽ được sống hết mình với nghệ thuật. Từ đó, Lý chạm được vào những tinh tế, thăng hoa của nghệ thuật với bản ngã mình đang có, mà không bị chi phối, lệ thuộc bởi bất cứ thế lực nào.

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 4.

Vì giản đơn, hài hòa nên Lý dễ hài lòng, không tự làm khổ mình với những đòi hỏi, ham muốn, tự ái như nhiều người khác. Lý nói:

"Tôi là người rất dễ hài lòng với cuộc sống. Chẳng hạn việc bưng cà phê, ship sữa tôi thấy vui lắm".

Giữa cuộc sống xô bồ, ngột ngạt, bon chen của xã hội hiện đại, khiến ai cũng stress, trầm cảm, thì cách sống của Lý là con đường tuyệt vời nhất để tìm được hạnh phúc.

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 5.

"Khi tôi ra ngoài, Tú sẽ đặt xe, trả tiền. Tôi cũng không phải tự đặt hay mua vé máy bay. Tôi trong đời sống bình thường chỉ là một bánh bèo vô dụng".

Với khán giả cũng vậy, có người yêu Lý, có người không yêu Lý, nhưng không ai ghét Lý. Lý là nghệ sĩ hiếm hoi gần như không có anti fan trong showbiz hiện nay. Đó cũng là niềm hạnh phúc không phải nghệ sĩ nào cũng có.

Chủ nghĩa xê dịch – đích đến của tự do và hạnh phúc

Lý là người sống theo chủ nghĩa xê dịch. Lý thích đi đây đi đó, đi để trải nghiệm và tận hưởng cuộc sống. Lý thích quan sát con người, cảnh vật, thiên nhiên nơi mình đến để lưu giữ lại vào kí ức, từ đó chuyển thành âm nhạc.

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 6.

Những nơi Lý đến đều có thiên nhiên, cây cỏ, gần gũi với đất trời. Lý muốn hòa bản ngã của mình vào bản gốc của tự nhiên, để cảm nhận, để trở về với những gì nguyên sơ nhất.


Tinh thần này của Lý hợp với lối sống hiện sinh chủ nghĩa của những người Hippes thập niên 60, tức là thả hồn theo gió, để gió cuốn đi, lấy thiên nhiên làm nhà, lấy con người làm bè bạn. Chỉ có điều, Lý hiền, Lý lành và an nhiên, chứ không nổi loạn như dân Hippes.

Lý đi nhiều nhưng không hời hợt. Ở mỗi nơi mình đặt chân đến, Lý đều đọc nhiều sách để tìm hiểu kĩ. Đó là cách giúp Lý giao hòa với cuộc sống xung quanh và tận hưởng chúng một cách sâu sắc, tinh tế hơn.

Cách sống này giúp Lý hạnh phúc vì có được tự do, cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Dạo gần đây, Lý không chỉ đi một mình, mà còn đem theo khán giả, bằng cách tổ chức đêm nhạc ở những nơi mình đến, lúc ở Vịnh Hạ Long, lúc ở Đà Lạt. Sắp tới, Lý còn sang tận châu Phi để làm show riêng.

Cách làm này tuy không đem lại nhiều lợi nhuận, nhưng giúp Lý tạo được cộng đồng của riêng mình. Những câu chuyện Lý kể đã có người nghe. Những gì Lý cảm nhận đã có người hiểu. Không gì hạnh phúc hơn khi những người cùng chí hướng lại được ở gần nhau, đúng như Lý nói:

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 8.

"Dreamers concert là ý tưởng của Tú, tổ chức lần đầu ở một hang trên Vịnh Hạ Long. Tôi và khán giả đã cùng nhau lên một con tàu, vòng chơi thăm Vịnh 2 ngày.

Đêm cuối tôi biểu diễn. Khi xem xong, khán giả và nghệ sĩ đều cảm thấy hạnh phúc.

Tôi và Tú thấy như thế là đúng hướng nên cứ thế làm tiếp. Sau Hạ Long, chúng tôi đã tổ chức thêm một tour ở vườn ươm tại Đà Lạt, một tour tôi hát trên các thửa ruộng bậc thang ở Sapa.

Lê Cát Trọng Lý: Ca sĩ kỳ lạ suốt 10 năm từ chối cầm tiền và sống hạnh phúc nhất showbiz Việt - Ảnh 9.

Sau này, tôi không làm ở Việt Nam nữa mà tổ chức đi xa hơn, đến các vùng khác nhau trên thế giới. Mỗi chuyến đi như thế, ngoài việc được du lịch, tôi có thêm những sáng tác mới, góp vào kho ca khúc của mình những bản nhạc đa sắc màu địa phương"..


Long Phạm

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

Hồng Nhung: Giọng hát diva và những tiên phong tinh tế trong nhạc Trịnh

 

Là một đàn em đi sau, hát dòng nhạc đã qua quá nhiều tượng đài, nhưng Hồng Nhung vẫn thành công với lối đi riêng. Hồng Nhung thuộc thế hệ đi sau, nhưng lại có vị trí to lớn, như một mắt xích quan trọng mang tính chuyển giao trong dòng chảy nhạc Trịnh.

Khơi yêu thương, tưới sức sống mới những năm cuối đời

Vị trí của Hồng Nhung với nhạc Trịnh vô cùng đặc biệt vì cô là bóng hồng duy nhất hát nhạc Trịnh thành công trong tâm thế của người tình nhân, khác với những ca sĩ còn lại, như lời cô nói: "Ở giữa hai chúng tôi chắc chắn là có một tình yêu, nhưng tình yêu đó như thế nào thì tôi giữ riêng cho mình".

Hồng Nhung cũng là người gắn bó với Trịnh Công Sơn trong suốt 10 năm cuối đời. Có lẽ vì vậy mà cách thể hiện nhạc Trịnh và những ấn tượng Hồng Nhung đem lại cho khán giả cũng thật khác biệt.

Trịnh Công Sơn từng nói: "Sau Khánh Ly, tôi may mắn tìm được Hồng Nhung, với ca khúc của tôi, Nhung có nhiều sự đồng cảm...". Bằng phát biểu này, Trịnh Công Sơn đã ngầm khẳng định Hồng Nhung là người hát nhạc Trịnh đứng thứ hai, chỉ sau Khánh Ly.

Đặc biệt hơn cả, sự xuất hiện của Hồng Nhung còn ảnh hưởng ngược lại tới sự thay đổi trong phong cách sáng tác của nhạc sĩ họ Trịnh. Đây là điều hiếm có ca sĩ nào làm được.

Hồng Nhung: Giọng hát diva và những tiên phong tinh tế trong nhạc Trịnh - Ảnh 1.

Hồng Nhung với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “là một người quá gần gũi không biết gọi là ai”

TL

Hồng Nhung gặp Trịnh Công Sơn từ rất sớm, khi mới 21 tuổi, còn vị nhạc sĩ tài hoa đã bước vào tuổi xế chiều, với trái tim hằn lên nhiều vết thương của chia cách, tan vỡ, biệt ly và đi qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Chính sự trẻ trung, hồn nhiên và trong sáng, thuần khiết của cô gái mới lớn đã tưới dòng nước mát vào tâm hồn Trịnh Công Sơn, giúp ông khơi nguồn lại những khát khao sống, xúc cảm yêu thương mới với cuộc đời.

Nhờ đó, Trịnh Công Sơn tìm lại được cảm hứng sáng tác đã nguội lạnh, để viết nên chùm 3 ca khúc dành riêng cho Hồng Nhung: Bống bồng ơi (1993), Bống không là Bống (1995), Thuở Bống là người (1998). Cả 3 ca khúc đều là câu chuyện cổ tích về cô Bống Hồng Nhung, người đã đem lại nguồn sống trẻ trung cho Trịnh Công Sơn, là nơi ông gửi gắm một cách thầm kín những cảm xúc tình yêu trong sáng ở tuổi bên kia dốc cuộc đời.

Vì vậy, trong những ca khúc cuối đời này, Trịnh Công Sơn sử dụng ngôn từ và giai điệu vui tươi, trong sáng, tràn đầy yêu thương một cách tích cực, chứ không phải nỗi ưu tư, chiêm nghiệm, sầu não hay trào phúng như những giai đoạn trước đây. Và tất nhiên, vì viết riêng cho Hồng Nhung nên chỉ tiếng hát Hồng Nhung mới thể hiện được đúng màu sắc, tư tưởng của những ca khúc này một cách trọn vẹn nhất.

Mối quan hệ giữa Hồng Nhung và Trịnh Công Sơn thật đặc biệt, như ông nói là: "Hồng Nhung là một người quá gần gũi không biết gọi là ai". Cả hai có sự gắn bó thân thiết với nhau trong một thời gian dài. Hơn nữa, Hồng Nhung lại là người thông minh, tinh tế, giỏi về ngôn ngữ, nên dù còn trẻ đã hiểu sâu sắc được ca từ nhạc Trịnh cùng nhiều tầng nghĩa ẩn giấu sâu thẳm để truyền đạt tới khán giả.

Năm 1993, Hồng Nhung cho ra mắt album nhạc Trịnh đầu tiên và vấp phải nhiều tranh cãi trong công chúng vì cách hát quá mới, khác hẳn những danh ca trước đó. Nhưng đích thân Trịnh Công Sơn khi đó đã khẳng định: "Hồng Nhung làm mới lại những ca khúc của tôi. Có người thích, có người không thích. Tuy nhiên, tôi thích vì đó là cách biểu hiện mới phù hợp với tiết tấu của thời đại - một sự lãng mạn mới. Nó giúp mình có được chỗ ngồi trong hiện tại chứ không phải kẻ nhắc tuồng từ quá khứ".

Là một đàn em đi sau, hát dòng nhạc đã in dấu nhiều tượng đài, nhưng Hồng Nhung vẫn thành công với lối đi riêng, đây là kỳ tích. Hồng Nhung là một trong những ca sĩ đầu tiên chịu làm mới nhạc Trịnh với lối hát "dương tính", giống như Trịnh Công Sơn từng nói: "Nhung đã thổi luồng gió mới vào các ca khúc của tôi, Nhung đã có cách xử lý riêng, rất nghệ sĩ".

Chưa dừng lại ở đó, với tư duy và sự sáng tạo của người nghệ sĩ trình diễn đích thực, Hồng Nhung còn sáng tạo nhạc Trịnh cả ở hình ảnh (trình diễn, nghệ thuật làm MV). MV Đóa hoa vô thường được cho là một trong những MV âm nhạc nghệ thuật dài hơi tiên phong đầu tiên của nhạc Việt, với nhiều tầng nghĩa, mà đến nay vẫn còn giá trị.

Giọng hát nội lực và những tiên phong đầy tinh tế

Hồng Nhung được xem là một nữ trung (mezzo soprano), nhưng theo người viết, cô gần với một dugazon (âm sắc quãng trung sáng nhưng ấm áp, quãng trầm tốt, hát với âm sắc của nữ trung và nữ cao nhẹ nhàng) hơn. Nhờ đó, Hồng Nhung thể hiện nhạc Trịnh với sự trong sáng, thuần khiết, tươi tắn như làn gió mới nhưng vẫn giữ được chiều sâu, chất trầm mặc, thiền tịnh vốn có.

Đặc biệt, Hồng Nhung còn là giọng hát nội lực, âm lượng lớn và giàu kỹ thuật. Những điều này tưởng như không thể hợp với nhạc Trịnh, vậy mà lại được nữ ca sĩ xử lý thật tinh tế. Vì vậy, cô đi tiên phong trong việc khoe vocal vào nhạc Trịnh nhưng không quá lố mà vẫn tinh tế, nâng tầm nhạc Trịnh lên một bậc học thuật trong nhạc nhẹ, được nhiều đàn em học hỏi.

Cô thường thêm thắt những đoạn biến tấu đầy cao trào, kỹ thuật vào ca khúc. Chẳng hạn như những đoạn head voice angelic legato trong bài Tôi ru em ngủ hay đoạn belting A4 dài hơi kinh điển trong Ru em từng ngón xuân nồng. Cách hát này đem lại những xúc cảm thăng hoa đầy mới lạ với khán giả khi nghe nhạc Trịnh, không bị nhàm chán, u uất, trầm mặc. Đôi khi, nó tạo nên cả những cơn bão cảm xúc, mang hơi thở của thời đại mới. Nhờ đó, nhạc Trịnh được phái sinh liên tục để sinh tồn trong đời sống âm nhạc bền bỉ, chứ không chỉ là bức tượng đài của quá khứ. 

Long Phạm 

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng

 Thanh Lam được biết đến là một Diva lớn của nền nhạc nhẹ Việt Nam đương đại, đi tiên phong với nhiều cống hiến trong suốt hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, nữ ca sĩ này cũng là hiện tượng gây tranh cãi trong nhiều năm trở lại đây vì sự thay đổi trong cách hát để nên kịch tính, giằng xé và cao trào hơn. Điều này khiến cô nhận về không ít ý kiến trái chiều. Cần nhìn nhận một cách đúng đắn về năng lực và giọng hát của Thanh Lam.

Giọng hát khổng lồ với âm sắc hiếm có cùng lối diễn đầy đam mê, nhựa sống

Ở miền Bắc cách đây hơn 30 năm, người ta thường chuộng các giọng nữ cao trữ tình, có khả năng hát đẹp theo thanh nhạc chính thống. Nhưng Thanh Lam không phải "chim sơn ca" hay "chim họa mi" theo thẩm mỹ truyền thống đó, cô mang đến một giọng hát trần tục và phồn thực hơn.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 1.

Đó là tiếng hát của Người đàn bà đam mê tình ái và khát khao cuộc sống. Chính giọng hát này đã đem tới một màu sắc riêng biệt cho nhạc Việt và góp phần thay đổi thẩm mỹ âm nhạc của khán giả.

Bẩm sinh Thanh Lam sở hữu giọng nữ trung trữ tình rất sâu và dày, có độ solid đậm đặc, phát triển mạnh mẽ trên quãng trung và trầm. Không những vậy, âm sắc của Thanh Lam còn rất đẹp, nó tròn trịa, đầy đặc và ấm áp, không thể chê vào đâu được.

Giới chuyên môn nhận định, hiếm ca sĩ châu Á nào có "độ khè" đặc biệt trong giọng hát như Thanh Lam. Bởi thế, chỉ cần Thanh Lam cất giọng lên đã đủ khiến chị nổi bật hơn mọi ca sĩ khác hát chung, chứ chưa cần phô diễn kĩ thuật.

Bằng giọng hát đặc biệt này, Thanh Lam đã vượt qua nhiều ca sĩ tài năng như Hồng Nhung, Ngọc Sơn, Thu Phương, Bằng Kiều, Y Moan, Thùy Dung… để trở thành ca sĩ duy nhất đoạt giải Lớn (trên cả giải nhất) trong cuộc thi Đơn ca Nhạc nhẹ toàn quốc năm 1991 với số điểm tuyệt đối.

Như vậy, ngay từ thưở ban đầu, Thanh Lam đã tự khẳng định vị thế số 1 của mình trong làng nhạc nhẹ Việt Nam.

Ngay từ những bản live ở giai đoạn đầu sự nghiệp, dù còn rất trẻ, nhưng Thanh Lam đã tỏ rõ được chất giọng đặc biệt có một không hai của mình, không kém cạnh bất cứ ca sĩ quốc tế nào và vượt trội hơn hẳn các thế hệ ca sĩ Việt sau này.

Dường như nhận thức rõ được thế mạnh này của mình, Thanh Lam không chạy theo quãng cao như nhiều ca sĩ khác. Dù có thể scream tới C5, D5 và đỉnh điểm tới Eb7 (kỉ lục note cao ở Việt Nam) nhưng Thanh Lam lại tập trung vào quãng trung trầm (F3 – B4) và phát triển mạnh mẽ nó bằng kĩ thuật cộng minh sở trường, biến cô thành cơn lốc sân khấu đúng cả nghĩa đen lẫn bóng.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 3.

Theo nghĩa đen, giọng hát Thanh Lam giống như một người khổng lồ, tích hợp giữa âm lượng lớn, trường hơi khỏe, cột hơi vững chãi và kĩ thuật cộng minh đỉnh cao để đạt tới độ rền sẵn sàng lấp đầy cả sân khấu.

Theo nghĩa bóng, Thanh Lam hơn người chính ở bản lãnh sân khấu mạnh mẽ. Cứ mỗi khi cô bước ra là cả không gian phải nghiêng mình cúi đầu trước thần thái Diva, quyền lực toát ra ở mình, từ ánh mắt long lanh sắc lạnh đến nụ cười sảng khoái vương giả.

Không phải ca sĩ nào cũng có được cái thần thái sang chảnh, gai góc mà vẫn đậm đà quyến rũ như thế.

Không những vậy, phong cách trình diễn của Thanh Lam lúc nào cũng hừng hực đam mê, ngồn ngộn nhựa sống. Từng cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ của cô đều thở ra sự cháy bỏng, căng tràn. Chưa có nữ ca sĩ Việt Nam nào mỗi khi hát tới đoạn cao trào là lại ngửa toàn bộ cơ thể về phía sau để đưa cả khuôn mặt lên trời, dang rộng hai tay như muốn ôm cả sự sống rồi phát tiết ngùn ngụt qua giọng hát bão lửa của mình giống Thanh Lam.

Trong lối trình diễn này, Thanh Lam khá giống với Whitney Houston. Và có lẽ, cả Thanh Lam lẫn Whitney đều có chung một có chung một đặc điểm, dù hát về niềm vui hay nỗi buồn cũng không bao giờ bi lụy, mà vẫn luôn căng tràn đam mê, truyền lửa được tới người nghe để khiến họ phấn chấn hơn. Sự phấn chấn ấy, người ta gọi là đạt tới đẳng cấp tạo bão cảm xúc bằng giọng hát. Đó chính là cơn bão Thanh Lam tạo ra trên sân khấu, và cũng là nét chấm phá riêng trong trường phái mang tên mình.

Sự thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái hát riêng

Thanh Lam của ngày xưa là một Thanh Lam đằm thắm, xứng đáng với danh xưng Nữ hoàng nhạc nhẹ. Trong từng câu hát đều ẩn chứa biết bao nỗi niềm, khắc khoải đa đoan của nhiều kiếp người, kiếp tình.

Từ thời hoàng kim, cô đã tự tạo nên những đặc trưng cho trường phái của mình bằng lối hát khắc khoải, ưu sầu, hát mà như thủ thỉ, tâm tình, đãi chữ dài hơn, hơi "rên rỉ" để bộc lộ nội tâm bùng cháy, bản năng của người phụ nữ, và kèm theo chất liêu trai, ma mị ở những quãng trầm bổng, luyến láy, nhưng vô cùng chắc chữ, rõ lời.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 4.

Nói đến chữ "sâu" của cảm xúc, chắc chẳng mấy ai ở Việt Nam này đủ sâu và thẳm hơn Thanh Lam. Cô chơi đùa với từng con chữ trên từng phím nhạc mà vẫn đầy duyên dáng. Và điều đó đã khiến khán giả ngày ấy phải đội mưa đến nghe Thanh Lam hát.

Từ hồi rời Quốc Trung, Thanh Lam không còn dịu dàng, đằm thắm nữa. Giông bão cuộc đời đã khiến co trở nên mạnh mẽ và cuồng loạn hơn trong phong cách biểu diễn. Thanh Lam muốn tung ra tất cả những gì mình có để được cháy với đam mê của chính mình. Chị muốn hát như thể ngày mai sẽ không còn được hát nữa.

Chính điều này đã khiến nhiều người lên tiếng chỉ trích Thanh Lam là phá nát bài hát. Họ gọi cô là "nữ hoàng nhạc nặng"và không biết tiết chế.

Nhưng nếu tiết chế, để ý tới lời này ý nọ thì Thanh Lam đã không còn là mình. Bản năng và phô diễn mới là điều làm nên trường phái Lam, một nét riêng có trong âm nhạc. Ai đó cần sự tiết chế, nhẹ nhàng, mời nghe ca sĩ khác.

Trong nghệ thuật, mỗi trường phái có một tôn chỉ "cực đoan" riêng để duy trì sự sống còn của họ. Nhạt nhòa hay ngoan ngoãn không làm nên trường phái. Và mỗi nghệ sĩ cũng cần có một bản ngã của riêng họ, Thanh Lam cũng vậy.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 5.

Bản ngã của Thanh Lam là mạnh mẽ, cuồng nhiệt, đam mê, nó hợp với chất giọng nội lực của cô.

Một số khán giả không cảm thụ được vì họ quá quen với lối cũ, chứ không phải tại Thanh Lam. Ở Mỹ, những Patti Labelle, Aretha Franklin, Chaka Khan, Rachelle Farelle… vẫn thỏa sức thổi bay mọi thứ bằng sự phô diễn giọng hát của họ để trở thành tượng đài, nhưng tại Việt Nam lại quá mới mẻ. Là một nghệ sĩ, đẩy được cái tôi cùng mình đến cùng cực để đào sâu nghệ thuật mới là điều cốt lõi.

Bởi vậy, việc Thanh Lam rời Quốc Trung và đổi thay phong cách không phải dại như người ta nói, mà chỉ là dấu mốc để cô tô đậm hơn trường phái của mình với các dòng nhạc mới như dân gian đương đại, đẩy nó lên tới cực điểm.

Trong công cuộc khai phá những dòng nhạc mới, Thanh Lam từng được khen ngợi là nữ ca sĩ có kĩ thuật cộng minh tốt nhất nhạc nhẹ Việt Nam.

Dù lời khen đó không hẳn đã đúng, nhưng có lẽ, cô chính là người tiên phong cho việc sử dụng và sáng tạo lối hát cộng minh vào nhạc nhẹ Việt Nam, mở màn một lối hát mới - lối hát phô diễn giọng hát trên giọng ngực (thông qua cộng minh quãng trung), ở những khoảng âm to, dày, lớn cả về trường độ và cường độ, tràn đầy năng lượng.

Cách hát này giúp Thanh Lam thể hiện thành thần những ca khúc đòi hỏi tính sử thi, hùng tráng, với trường độ, âm lượng dồn dập của cả một dàn giao hưởng phía sau. Có lẽ, rất hiếm nữ ca sĩ nhạc nhẹ nào ở Việt Nam có thể làm được điều này.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 6.

Trường phái Lam còn nổi bật ở lối đãi chữ bè dài kéo ra ê a kèm theo những đổ hột rất nhẹ, nghe rất đam mê, rất "đàn bà" và phồn thực, cuồn cuộn nhựa sống.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa Thanh Lam lúc nào cũng phô diễn bất chấp tất cả. Mỗi khi song ca, cô rất tôn trọng bạn diễn, luôn bè phối rất tinh tế, nhịp nhàng để nâng mình, nâng bạn và nâng cả âm nhạc lên. Bởi thế, Thanh Lam thường xuyên được các nghệ sĩ mời song ca, vì họ thích sự hòa quyện ở Diva này.

Trường phái Thanh Lam ngày nay đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều ca sĩ tại Việt Nam, đặc biệt là về kĩ thuật và lối hát. Đó thực sự là một trường phái đích thực và duy nhất trong nhạc nhẹ Việt đương đại.


Long Phạm

Tuấn Ngọc: Giọng hát nam tính và ung dung tự tại của nhạc Trịnh

 

Tuấn Ngọc là một trong số ít giọng nam hát nhạc Trịnh thành công, được đông đảo khán giả yêu mến và có một vị trí, chỗ đứng vững vàng trong mảng âm nhạc vốn đã quá nhiều người thể hiện này.

Nhiều người còn nhận định rằng nếu giọng nữ thể hiện nhạc Trịnh xuất sắc nhất là Khánh Ly thì giọng nam chỉ có thể là Tuấn Ngọc.

Thậm chí, chính bản thân cố nhạc sĩ họ Trịnh sinh thời cũng khẳng định Tuấn Ngọc là giọng ca nam từng thể hiện các tác phẩm của ông thành công nhất.

Những khai phá đầu tiên khiến Trịnh Công Sơn ấn tượng

So với những danh ca cùng thời, Tuấn Ngọc hát nhạc Trịnh khá muộn. Phải tới năm 1981, khi đã 34 tuổi, anh mới thu bài nhạc Trịnh đầu tiên, là ca khúc Hạ trắng kinh điển. Bài hát này được thu trong một đĩa nhạc gồm 10 ca khúc của nhiều nhạc sĩ khác nhau, nhưng vẫn nổi bật và được khán giả chú ý.

Tuy không hát nhạc Trịnh từ sớm, nhưng từ cuối năm 1970, Tuấn Ngọc đã bắt đầu nghe Khánh Ly hát nhạc Trịnh mỗi đêm khi cùng sinh hoạt tại một phòng trà, nhưng chỉ nhớ hai bài Cát bụi và Tình xa.

Tuấn Ngọc: Giọng hát nam tính và ung dung tự tại của nhạc Trịnh - Ảnh 1.

Tuấn Ngọc là giọng nam hát nhạc Trịnh thành công nhất

TL

Ngay sau đó, Tuấn Ngọc dựng liên khúc Cát bụi tình xa cho ban nhạc The Uptight của các em trong nhà (gồm Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Anh). Mục đích chỉ đơn giản là giúp các em mình có nhạc trình diễn. Nhưng cũng chính nhờ đó mà anh đã đóng góp cho nhạc Trịnh một phong cách trình diễn, hòa âm mới mẻ, hiện đại, hội nhập thế giới.

Thời điểm đó, người Mỹ thường hát medley (liên khúc) rất hay, nhưng tại VN chưa có. Nhận ra kiểu hát này rất phù hợp để trình diễn nhiều bài trong một show nhưng thời lượng chỉ có hạn nên Tuấn Ngọc quyết định áp dụng dựng bài cho các em mình. Đó cũng là lần đầu tiên nhạc Trịnh được trình diễn dưới dạng medley.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vô cùng ấn tượng trước bản hòa âm mới lạ này, liền lập tức đến gặp ban nhạc để hỏi ai làm và Tuấn Ngọc không ngần ngại nhận là mình. Tuy cuộc nói chuyện giữa hai người diễn ra không dài nhưng cũng khiến Tuấn Ngọc nhớ mãi về sau.

Trong thời gian ấy, Tuấn Ngọc thường xuyên trò chuyện cùng Khánh Ly, nên có cơ hội hiểu thêm nhiều về nhạc Trịnh. Trong một lần tâm sự, Tuấn Ngọc nói: "Đã có lần Khánh Ly và tôi ngồi cả đêm tranh luận với nhau thành ra tôi biết Khánh Ly yêu nhạc Trịnh Công Sơn như thế nào. Vì lý do đó mà Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn tự nhiên nhất, nồng nàn nhất, như một người mẹ yêu thương đứa con của mình, yêu tất cả những gì thuộc về nó mà không cần phải đóng kịch".

Dù Tuấn Ngọc từng có thời gian dài hát nhạc ngoại và gần như không đụng đến nhạc Việt, nhưng tới khi quay lại hát nhạc Việt, anh vẫn lựa chọn nhạc Trịnh để hát đầu tiên. Đây cũng là cánh cửa đưa tên tuổi Tuấn Ngọc lại gần khán giả VN, dẫn anh đến thành công vang dội. Chính Tuấn Ngọc cũng thừa nhận rằng trong cuộc đời anh mang nợ 4 nhạc sĩ là Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng và Ngô Thụy Miên. Anh nói: "Không một lần trình diễn nào tôi lại không hát nhạc Trịnh".

Tiếng hát bền bỉ của người nói hộ tiếng lòng nhạc Trịnh

Là giọng nam thể hiện nhạc Trịnh thành công nhất, Tuấn Ngọc đem lại cho khán giả một thứ âm nhạc văn minh, hào hoa, phong nhã, lịch thiệp và mang đậm chất học thức.

Tuấn Ngọc bẩm sinh sở hữu giọng nam trung trầm ấm, dày và rền nên rất hợp để thể hiện màu sắc trầm mặc, suy tưởng và đầy triết lý ở nhạc Trịnh, lại thêm phần nam tính, nói hộ tiếng lòng người nhạc sĩ một cách đúng chất nhất ở sự thấu hiểu, từng trải, điều các giọng nữ khác chưa làm được.

Màu giọng Tuấn Ngọc không thuần kim hay thuần thổ như một số giọng nam khác, mà pha với mộc. Đây là đặc trưng về màu giọng của riêng gia đình anh. Nhờ pha mộc nên giọng Tuấn Ngọc rất ấm và xốp, có độ ngọt ngào của âm hơi (airy voice), dù rất nhẹ, tạo nên những quãng âm ấm áp, nam tính nhưng cũng mềm mại khi hát nhạc Trịnh.

Trước khi hát nhạc Việt, Tuấn Ngọc chủ yếu hát nhạc Âu - Mỹ nên chịu ảnh hưởng nhiều từ cách hát của các dòng traditional pop, chamber pop, rock, soul… Và khi hát nhạc Trịnh, anh cũng đem theo hơi thở của những dòng nhạc này vào. Ấn tượng đầu tiên của khán giả khi nghe Tuấn Ngọc hát nhạc Trịnh là một lối hát chỉn chu, gọn gàng, mang hơi hướng semi classic, pha thêm một chút jazzy.

Cách hát chậm rãi, từ tốn, có chút màu sắc traditional pop của Tuấn Ngọc được định hình rất rõ từ Tony Bennett. Anh hát nhạc Trịnh như tâm sự, kể một câu chuyện, không vội vàng, phô trương, đôi chỗ có thể hơi lơi nhịp, lại có chỗ ngẫu hứng theo phong cách jazz.

Mặt khác, Tuấn Ngọc có thể hát một cách tự sự, trầm ấm, dày dạn, biểu đạt những ưu tư, khắc khoải trong tâm trạng, nhưng khi cần thiết vẫn bung được hết nội lực.

Tuấn Ngọc chủ yếu hát bằng giọng ngực để tăng sự nam tính, từng trải cho giọng hát. Anh nói: "Nghề này, có người hát bằng giọng mũi, giọng cổ nhưng tôi chỉ chuyên hát bằng giọng ngực, cũng chính là để hát sao cho thật nhất, gần với xúc cảm nhất. Nhưng không có nghĩa mải đuổi theo cảm xúc mà bỏ quên kỹ thuật".

Và đó cũng là cách hát anh đem vào nhạc Trịnh, để diễn đạt trọn vẹn những tâm tư, nỗi lòng tác giả trong thấm thía từng trải, suy tư.

Tuy nhiên, khả năng light mixed của Tuấn Ngọc lại rất tốt khi hát ở quãng trung cao tầm D4, E4, F4. Anh có thể light mixed vuốt rung đuôi ở các đoạn nhả chữ, giúp tạo cảm giác nhẹ nhàng, dẫn dắt bài hát như mở ra một câu chuyện.

Đặc biệt, nhờ nền tảng kỹ thuật vững vàng mà Tuấn Ngọc luôn hát theo lối điềm tĩnh, tự tại, hướng sâu nội tâm. Và lối hát ung dung, chậm rãi này cũng trở thành dấu ấn độc đáo trong nhạc Trịnh, ảnh hưởng tới nhiều thế hệ đàn em sau này.


Long Phạm