Nói về diễn xuất trong cải lương thì Thanh Nga số 2 không ai dám nhận số 1.
Tác giả - phóng viên Long Phạm
Trang web âm nhạc cộng đồng. Hỗ trợ chúng tôi qua tài khoản: 178204122, ngân hàng VP Bank. Rất biết ơn nếu được hỗ trợ.
Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026
Thanh Nga và Tiếng trống Mê Linh
Thanh Nga và Dương Vân Nga
Thực ra vai diễn kinh điển, xuất sắc nhất của Thanh Nga không phải Trưng Trắc trong Tiếng trống Mê Linh mà là vai Thái hậu Dương Vân Nga. Và đó cũng là vai diễn khó bậc nhất lịch sử sân khấu Việt Nam từ trước tới nay, chưa một ai chạm tới level diễn xuất của Thanh Nga.
Ở vai diễn này, Thanh Nga diễn như lên đồng, diễn như được Tổ nghề nhập, diễn như chính nhân vật lịch sử bước ra, diễn với cái thần, chất sử thi hiếm có, từ ánh mắt tới giọng nói, giọng hát, cử chỉ, diễn mà ôm trọn được lòng yêu non sông đất nước, tinh thần dân tộc, hào khí chống ngoại xâm hào hùng, sừng sững, ôm cả bầu trời nước Nam vào mình. Ở Thanh Nga toát ra vầng hào quang sáng ngời.
99% khán giả từng xem Thanh Nga diễn vai này phải thốt lên rằng họ nổi da gà, sởn hết gai ốc, như được quay về lịch sử hàng trăm năm trước để chứng kiến Thái hậu Dương Vân Nga bằng xương bằng thịt.
Các đàn em tài năng như Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Mỹ Châu, Kim Hương... cũng diễn lại nhưng đều không bằng được Thanh Nga,
Chỉ tiếc rằng vở diễn chưa kịp thu hình thì Thanh Nga bị amsat. Một mất mát lớn với nghệ thuật cải lương dân tộc.
Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026
Những kiểu ca sĩ nào dễ mất giọng?
Những kiểu ca sĩ nào dễ mất giọng?
1. Ca sĩ có giọng đẹp. Giọng đẹp với các tính chất như mềm mại, êm ái, ấm áp, đầy đặn, có độ xốp, soft rất khó giữ. Ca sĩ thường chỉ sở hữu nó trong một giai đoạn tuổi trẻ của mình và dù hát kĩ thuật thế nào thì vẫn cứ mất đi âm sắc đẹp đó ở tuổi trung niên. Điển hình các mẹ giọng đẹp nhưng mất sớm như Whit, Moo, Lara, Aretha, Mỹ Linh, Hồng Nhung...
Các mẹ giọng xấu thì vốn đã xấu sẵn nên chẳng còn gì để mất, càng hát càng khủng, âu cũng là luật bù trừ cho các mẹ ấy, âm sắc chua chói, đanh luôn có khả năng trường tồn cùng thời gian. Điển hình như Patti, JenHud, JenHo, Yolanda, Tiffany Mosley, Keke, Chaka, Tina Turner... và hằng hà sa số mẹ da màu xôi thịt khác có chất giọng tối và đanh. Bởi vậy, đừng bất ngờ khi Chaka 70 tuổi vẫn F5 ầm ầm hay Tina Turner 70 tuổi vẫn đàn áp Beyonce tới bến.
2. Giọng nữ cao dễ mất giọng hơn so với nữ trung, nữ trầm, có lẽ vì phải hát với tần số rung lớn của dây thanh trên quãng cao. Với lại, theo tuổi tác thì giọng con người sẽ trầm xuống nên nữ cao về già mất đi quãng cao, âm sắc thanh mảnh là đương nhiên.
Trong opera xảy ra hàng loạt nữ cao mất giọng thành nữ trung chứ nữ trung, nữ trầm thì hát chục năm vẫn thế chứ chẳng thấy hề hấn gì. Càng già các mẹ ấy càng khủng
Đặc biệt, các mẹ nữ trầm là các mẹ giữ giọng tốt nhất và càng hát càng ngọt. Trước giờ chưa thấy mẹ nữ trầm nào mất giọng luôn. Đến như Toni Braxton hát sai kĩ thuật, rượu chè thuốc lá bê tha, giọng đẹp lộng lẫy, đau khổ các kiểu vẫn giữ giọng tốt chán.
3. Hát nhiều dễ mất giọng hơn hát ít, hiển nhiên. Đừng hỏi vì sao các mẹ Gospel giữ giọng tốt, vì các mẹ ấy có phải đi tour đi show ngập hành như Moo, Whit, Aretha đâu.
4. Hát sai kĩ thuật, rượu chè thuốc lá nghiện ngập không phải nguyên nhân lớn làm mất giọng như người ta vẫn nghĩ. Trên thực tế, một đống ca sĩ hát sai kĩ thuật, thuốc lá rượu chè vẫn giữ được giọng.
Nổi tiếng sớm là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến mất giọng. Khi nổi tiếng sớm, ca sĩ phải hát cật lực, đi tour nhiều, hát không ngừng nghỉ trong khi thanh quản chưa ổn định nên chắc chắn mất giọng sớm. Mariah Carey, Whitney là trường hợp điển hình.
Ở Việt Nam, Hương Tràm là điển hình của việc phải đi hát nhiều vì nổi tiếng sớm, cộng thêm việc gào nhiều nên giọng tối và trầm hẳn sau vài năm. Hồi The Voice, giọng Hương Tràm sáng và nhẹ nhàng hơn còn bây giờ tối và năng hơn.
Nhiều ca sĩ tới ngoài 30 gần 40 mới nổi tiếng nên giữ giọng rất tốt, vì lúc đó thanh quản của họ đã ổn định và chịu được việc hát nhiều, hát ở cường độ cao.
5. Cơ địa tốt, thể lực tốt giữ giọng tốt hơn. Đó là lí do vì sao các mẹ opera toàn tập điền kinh, bơi lội và mẹ nào cũng to béo xôi thịt. Chỉ cần sức khỏe yếu đi là giọng lập tức ra đi, như Maria Callas.
Bởi thế, đừng thấy mất mẹ da màu gào nhiều, gằn nhiều không mất giọng rồi học theo, cơ địa các mẹ ấy trâu bò, cổ họng cấu tạo khác, gằn thoải mái chẳng xỉ nhê. Người Á Đông yếu ớt thấy da màu gằn giọng cũng gằn theo rồi mất giọng cả đống.
Regine Velasquez là con mẹ hát sai kỹ thuật, chuyên gào rú note cao, strain tóe loe nhưng đến giờ vẫn cứ gào. Dù anti fan chửi mẻ lên xuống, trù cho mẻ mất giọng thì mẻ vẫn trường tồn, đơn giản vì giọng mẻ xấu hoắc và cơ địa trâu bò thì còn lâu mới mất. Mẻ chấp mọi định luật về hát đúng kĩ thuật sẽ giữ được giọng.
Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026
TỔNG QUAN VỀ TỪ GHÉP TIẾNG VIỆT
HÔM QUA CÓ NGƯỜI HỎI VỀ TỪ GHÉP NÊN POST BÀI NÀY
Theo Đỗ Hữu Châu, “từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) riêng rẽ, tách biệt, độc lập với nhau”.
Hiểu một cách đơn giản, từ ghép là từ được tạo ra từ phương thức ghép. Đây là phương thức “dùng hai hoặc hơn hai đơn vị câu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những quy tắc nhất định để cho một từ, được gọi là từ ghép”. Nói cách khác, “các từ tố cơ sở đi vào phương thức ghép cho các từ ghép”
Cũng theo Đỗ Hữu Châu, “Ở tiếng Việt, các hình vị riêng rẽ, tách biệt, không đối lập với nhau theo kiểu của các ngôn ngữ Ấn – Âu thành căn tố, phụ tố mà chỉ phân biệt với nhau thành hình vị thực và hình vị hư. Cho nên, trong tiếng Việt chỉ có các từ ghép chân chính. Nếu căn cứ vào tính chất hình vị thì các từ ghép của tiếng Việt được phân loại thành từ ghép thực và từ ghép hư. Từ ghép hư là từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có. Đó là các từ như bởi vì, cho nên, để mà, huống hồ…”.
Ở các từ ghép hư, không thể xác lập rõ ràng quan hệ cú pháp giữa các hình vị trong từ như với từ ghép thực nên khó mà tìm hiểu mặt kết học giữa chúng. Ngược lại, các từ như “đi” với “chạy” vốn là thực từ nên dù kết hợp với kiểu hình vị nào cũng có thể tìm hiểu mặt kết học, quan hệ ngữ pháp của chúng.
Trong đó, “nếu căn cứ vào ba loại âm tiết kí hiệu theo giáo sư Phan Ngọc: A độc lập, B không độc lập, không đơn nhất, C không độc lập, đơn nhất, mất nghĩa thì có thể có các kiểu từ ghép như sau:
AA: đi đứng, chạy nhảy…
AB: tàu thủy, bạn hữu…
AC: trắng nõn, diều hâu, ốc bươu, bếp núc, chợ búa…
BA: hữu tình, bách bệnh, thiện ý, nóng hổi…
BB: đặc ngữ, phi hành…”
Mặc dù có những từ ghép ba, ghép bốn, hoặc hơn nữa, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn là ghép hai từ tố cơ sở. Đây cũng là từ ghép phổ biến, điển hình của “đi” và “chạy” khi kết hợp với các từ tố khác. Ví dụ: đi chợ, đi buôn, đi cày, chạy bàn… Từ ghép có hai từ tố cơ sở có thể có ba âm tiết như: tắc kè đốm, bồ câu trắng, thiên nga trắng, cà phê chồn…
Từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ là “những từ ghép giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ. Nếu kí hiệu từ tố chính là X, từ tố phụ là Y thì từ tố phụ có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố X”
Theo Đỗ Hữu Châu, “theo chiều quan hệ chính phụ giữa X và Y, ta có trật tự xuôi nếu X ở trước, Y ở sau, trật tự ngược nếu Y ở trước, X ở sau. Theo đặc điểm độc lập, không độc lập, có nghĩa, không có nghĩa, mất nghĩa, đơn nhất, không đơn nhất thì cũng có loại từ ghép AA, AB, AC, BA, BB. Trừ các từ ghép chính phụ AC bao giờ cũng có trật tự xuôi như: xanh lè, tím ngắt, nhảy cẫng… các loại từ ghép còn lại đều có hai trật tự xuôi và ngược”. Các trật tự này gồm có:
- Ghép chính phụ AA trật tự xuôi: đi đêm, đi tết, đi buôn, đi chợ…
- Ghép chính phụ AA trật tự ngược: học trò, chua me…
- Ghép chính phụ AB trật tự xuôi: giải lao, hưởng lạc, cưới chạy…
- Ghép chính phụ AB trật tự ngược: thánh thư, tội nhân, chạy án, đi hội…
- Ghép chính phụ BA trật tự xuôi: lưu khách, lâm trận…
- Ghép chính phụ BA trật tự ngược: hậu phương, tha phương…
- Ghép chính phụ BB trật tự xuôi: thưởng nguyệt, đa ngữ…
- Ghép chính phụ BB trật tự ngược: bán kết, chung kết…
Các từ ghép chính phụ có thể lớn hơn hai âm tiết, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn do hai từ tố đơn âm tạo nên. Đây cũng là kiểu ghép chính phụ phổ biến ở “đi” và “chạy”.
Có các kiểu từ ghép chính phụ hai âm tiết như sau:
a. Từ ghép chính phụ phân nghĩa
Đây là “những từ ghép chia loại lớn thành những loại nhỏ có quan hệ bao gồm và nằm trong so với loại lớn”. Nói cách khác, “phân nghĩa là cơ chế tạo ra các từ ghép theo quan hệ chính phụ giữa các từ tố, lập thành từng hệ thống nhỏ đồng nhất về yếu tố chỉ loại lớn X cả về hình thức ngữ âm, cả về ngữ nghĩa”.
Có bốn kiểu ghép phân nghĩa là:
- Từ ghép phân nghĩa biệt loại: là “những từ ghép phân nghĩa thường gặp và có tính năng sản cao, có nghĩa là kiểu cấu tạo của chúng hiện đang có khả năng tạo hàng loạt những từ ghép chính phụ mới phục vụ cho giao tiếp xã hội”. Đây cũng là loại ghép phân nghĩa điển hình, “trong đó Y có vai trò phân hóa X thành những loại nhỏ”. Ví dụ như chạy thầy, chạy chợ, chạy bàn…
- Từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa: là loại từ ghép mà “các từ tố phụ Y là các âm tiết C có tác dụng chỉ các sắc thái khác nhau của tính chất hay trạng thái, hoạt động do từ tố chỉ loại lớn X biểu thị”. Ví dụ như xanh lè, xanh um, vàng khè, vàng chóe…
- Từ ghép phân nghĩa đẳng nghĩa: là loại từ ghép mà “nghĩa của từ tố X và từ tố Y có phần nào đó đồng nghĩa với nhau”. Ví dụ như bánh ga tô, kẹo mè sửng, hoa cúc, cá rô, rắn cạp nong…
- Từ ghép phân nghĩa phụ gia hóa: là loại từ ghép “được chia thành những kiểu nhỏ hơn, mỗi kiểu nhỏ hơn có cùng một từ tố nghĩa rất khái quát”. Ví dụ như tổ trưởng, tổ viên, phi chính phủ…
b. Từ ghép chính phụ biệt lập
Đây là loại từ ghép mà “nghĩa của mỗi từ không có quan hệ nằm trong so với nghĩa của một loại lớn nào, không hợp thành hệ thống nghĩa so với những từ ghép chính phụ khác. Trong những từ ghép này, tuy vẫn có từ tố chính X, nhưng X không phải là một loại lớn”. Ví dụ như ruột gà, ruột mèo, ruột tượng…
c. Từ ghép chính phụ có các từ gốc Hán Việt
Loại từ ghép này khá phổ biến trong tiếng Việt. Ví dụ: đa nghĩa, đa ngữ, phi phàm, phi hành…
Từ ghép đẳng lập
Từ ghép đẳng lập là “những từ ghép trong đó hai từ tố bình đẳng với nhau, không có từ tố nào là chính, từ tố nào là phụ, cả hai từ tố góp nghĩa với nhau để cho nghĩa mới của toàn từ ghép”.
Trong đó, “xét theo tính chất độc lập, không độc lập, có nghĩa, mất nghĩa, đơn nhất, không đơn nhất thì các từ ghép đẳng lập có đủ các kiểu AA, AB, BA, AC và BB”. Ví dụ:
- Từ ghép đẳng lập AA: đi đứng, chạy nhảy, đi lại…
- Từ ghép đẳng lập AB: bạn hữu, thời đại…
- Từ ghép đẳng lập BA: quy hoạch, quy mô…
- Từ ghép đẳng lập AC: bếp núc, chợ búa…
Căn cứ vào nguồn gốc từ loại và quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ tố, có thể phân từ ghép đẳng lập thành các nhóm:
- Từ ghép đẳng lập gốc danh từ: bạn hữu, phố xá, bếp núc…
- Từ ghép đẳng lập gốc động từ: đi lại, chạy nhảy…
- Từ ghép đẳng lập gốc tính từ: chậm trễ, đen tối, nóng nực…
- Từ ghép đẳng lập gốc chỉ số: vài ba, dăm bảy, tám chín…
- Từ ghép đẳng lập gốc từ hư: này kia, này nọ, đây đó…
Ngoài ra, còn có các loại từ ghép đẳng lập:
a. Ghép đẳng lập theo cơ chế nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, “nếu cho nghĩa của toàn bộ từ ghép là S thì nghĩa S của một từ ghép đẳng lập không do nghĩa của một từ tố quyết định như nghĩa của từ ghép biệt loại mà là kết quả của sự hợp nhất nghĩa của từng từ tố mà có”. Kết quả của sự hợp nghĩa cho ra ba loại từ ghép theo cơ chế nghĩa như sau:
- Ghép tổng loại: là “nghĩa của từng từ tố gộp lại tạo nên S, S chỉ một loại lớn hơn, rộng hơn". Ví dụ như anh em, cam quýt, hổ báo…
- Ghép đẳng lập chuyên loại: là “nghĩa S của toàn bộ từ ghép đẳng lập khồng lớn hơn về loại so với loại do từ tố biểu thị”. Ví dụ như thuốc thang, gà qué, chợ búa…
- Ghép phối nghĩa: là “những trường hợp mà nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại mà do sự phối hợp nghĩa của các từ tố mà thành”. Ví dụ như gang thép, điện máy, điện nước…
b. Ghép đẳng lập biệt lập
Đây là loại từ ghép mà “nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại, cũng không phải là phối nghĩa. Mỗi nghĩa là một sự kiện, một hoạt động, một tính chất riêng”.
Cơ chế từ loại từ ghép này theo chúng tôi là A+B = A’B’. Ví dụ như: gian ác, độc ác, gian xảo…
Các thế hệ từ ghép
Các kết hợp từ ghép luôn vận động, biến đổi không ngừng trong hoạt động hành chức để sinh ra những thế hệ từ tiếp theo của chúng. Thế hệ cấu tạo từ ghép được hiểu là “các từ tố kết hợp với nhau cho ta một từ phức thuộc thế hệ thứ nhất. Các từ này lại được đưa vào phương thức đã sản sinh ra chúng để cho ta các từ ghép thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba từ các từ thuộc hệ thứ nhất đó”.
Ví dụ, từ tố “xe” kết hợp với từ tố “đạp” cho ta từ ghép “xe đạp” thuộc thế hệ thứ nhất. “Xe đạp” lại được đưa vào phương thức ghép chính phụ biệt lập cho ta các từ thuộc thế hệ thứ hai như xe đạp điện, xe đạp đua, xe đạp cào cào…
Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026
Top 5 bản thu âm khó nhất của Whitney Houston (P2)
Top 5 bản thu âm khó nhất của Whitney
Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026
Tâm lý trọng phở khinh bún trong phim Việt
Tâm lý trọng phở khinh bún trong phim Việt. Trong khi các món như bánh canh, bún bò, bún mắm, bún chả, bún đậu, bún riêu... cũng đậm nét văn hóa truyền thống, đậm quốc hồn quốc túy, cách nấu cũng là cả 1 nghệ thuật thì luôn bị gạt ra một bên để nhường chỗ cho phở.
Phở với tôi là món overrated nhất hệ mặt trời, hở tí là lôi phở ra truyền thông, pr, làm phim, hậu quả là phim flop ể. Nguyên nhân phim flop chính vì tư duy cũ rích, cứ bám vào phở để pr, riết rồi người nước ngoài họ lại nghĩ ẩm thực Việt nghèo nàn có mỗi phở nên pr hoài.
Tôi team bún, các loại bún mắm, bún bò, bún chả, bún cá... tôi đều mê hơn món phở overrated =)))
Mong nhà sản xuất làm phim Mùi bún mắm, Mùi bún bò. Mùi bánh canh... đảm bảo hot hơn nhiều đấy, cho nó mới lạ đi, suốt ngày làm phim về phở, cũ rích như trái đất nên không ai xem là đúng rồi =)))
Top 5 bản thu âm khó hát nhất của Whitney (P1)
Quốc ca Mỹ - The Star Spangled Banner (Lá cờ lấp lánh sao)
Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026
Nghịch lý Tunrandot
Nghịch lý là vai diễn công chúa Turandot là một người Trung Quốc nhưng lại không có ca sĩ Trung Quốc nào đủ sức hát vai này vì Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung không có dramatic soprano (nữ cao kịch tính).
Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026
Kate Moss bà hoàng model
Sự thực thì trong thập niên 90s Kate Moss mới là nữ hoàng của làng thời trang.
Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026
Thẩm Thúy Hằng: Bi kịch cuộc đời nữ minh tinh nhan sắc tuyệt trần, cát xê cao khủng khiếp
Nữ minh tinh có nhan sắc tựa Marylin Monroe
Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Kim Phụng, là một người miền Nam nhưng sinh ra tại Hải Phòng. Có lẽ những tinh hoa của mảnh đất hoa hậu xứ Bắc này đã nhào nặn cho cô một nhan sắc tuyệt trần ít ai sánh kịp.
Vừa tròn một tuổi, Kim Phụng đã phải theo cha về lại miền Nam và lớn lên ở vùng quê An Giang sông nước, nên thấm nhuần chất ngọt ngào nữ tính của con gái miền Tây.
Thưở nhỏ, Kim Phụng học ở Long Xuyên, nhưng hết tiểu học lại theo chị lên Sài Gòn tu nghiệp.
Từ khi 16, Kim Phụng đã nổi tiếng là một hoa khôi xinh đẹp trong giới học sinh Sài Gòn. Nhận thức được điều này, cô gái trẻ đã giấu gia đình tham gia cuộc thi tuyển diễn viên do hãng điện ảnh Mỹ Vân tổ chức và vượt qua hơn 2000 thí sinh khác, giành giải nhất.
Sau này, Thẩm Thúy Hằng kể lại, hồi đó cô không hề được học hành trường lớp về diễn xuất, gia đình cũng không đồng ý cho theo nghiệp diễn viên, nhưng vì đam mê với nghề nên bất chấp đi thi và không thể ngờ lại đoạt giải nhất trước hàng ngàn thí sinh khác.
Ông bà chủ hãng phim Mỹ Vân đã sớm nhận ra tiềm năng tỏa sáng của Kim Phụng nên đổi nghệ danh cho cô thành Thẩm Thúy Hằng và bắt đầu tiến hành các chiến lược lăng xê cô gái trẻ.
Với tài năng thiên phú cùng nhan sắc "chim sa cá lặn", Thẩm Thúy Hằng nhanh chóng vụt sáng ngay sau vai diễn đầu tiên – Tam Nương trong phim Người đẹp Bình Dương.
Vai diễn ghi dấu ấn tới mức, cái tên Người đẹp Bình Dương đã trở thành thương hiệu riêng của Thẩm Thúy Hằng, gắn chặt với sự nghiệp của cô.
Nhiều người còn ví rằng, nếu nước Mỹ có Marylin Monroe thì Việt Nam có Thẩm Thúy Hằng. Câu nói đó không hề quá lời, vì ở nền điện ảnh Việt Nam khi ấy, không một nữ diễn viên nào nổi tiếng và sở hữu nhan sắc tuyệt trần như Thẩm Thúy Hằng.
Trừ màu tóc đen thì Thẩm Thúy Hằng có rất nhiều nét tương đồng với Marylin Monroe về ngoại hình như đôi môi căng mọng, đôi mắt to sâu thẳm ngọt ngào, cặp lông mày đậm quyến rũ và đường cong cơ thể nóng bỏng.
Vẻ đẹp đầy đặn, căng tràn sức sống của Thẩm Thúy Hằng được xem là chuẩn mực thời bấy giờ.
Chưa dừng lại ở đó, Thẩm Thúy Hằng tiếp tục vào vai Chức Nữ trong phim Ngưu Lang Chức Nữ do NSND Năm Châu đạo diễn.
Và đây mới là vai diễn đưa tên tuổi Thẩm Thúy Hằng tới nấc thang cao nhất của danh vọng, đúng như một nhà phê bình từng nói: "Khán giả không thể quên nàng Chức Nữ đẹp lộng lẫy, sương khói đang bay về trời trong tiếng hát thánh thót như ngân lên từ những áng mây huyền ảo, thần tiên trong nhạc cảnh Chức Nữ về trời do Phạm Duy soạn nhạc".
Quả thực, khán giả từ Nam ra Bắc không ai là không biết tới Thẩm Thúy Hằng. Người ta thường nói với nhau: "nghe Khánh Ly, xem Thẩm Thúy Hằng".
Đẳng cấp của một tượng đài với mức cát xê lên tới gần 1 tỷ đồng
Chẳng mấy chốc, Thẩm Thúy Hằng trở thành minh tinh điện ảnh của Việt Nam được các hãng phim săn đón. Cô đóng hàng trăm bộ phim khác nhau và hầu như phim nào cũng thành công vang dội.
Nữ minh tinh cũng sở hữu mức cát xê cao nhất khi ấy, với 1 triệu đồng cho một vai diễn (tương đương gần 1 tỷ đồng bây giờ). Cho đến nay, hiếm có nữ diễn viên nào đạt tới mức cát xê này.
Dưới vai trò của một minh tinh màn bạc, Thẩm Thúy Hằng liên tục tham dự các liên hoan phim quốc tế ở Hongkong, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, Liên Xô… và đạt các giải thưởng lớn như Nữ diễn viên xuất sắc tại Liên hoan phim Đài Bắc, Ảnh hậu Á Châu trong Liên hoan phim Á Châu tổ chức tại Hongkong và Đài Loan năm 1972 - 1974, Nữ diễn viên khả ái nhất tại Liên hoan phim Moskva và Tasken tại Liên Xô năm 1982...
Với những thành tích đáng kinh ngạc như vậy, tên tuổi Thẩm Thúy Hằng đã vươn tới tầm châu lục. Nữ minh tinh thực sự là một tượng đài lớn, một đẳng cấp mà cho tới nay chưa diễn viên nào ở Việt Nam chạm tới.
Có những khi, trong một dàn diễn viên ngoại quốc, chỉ có Thẩm Thúy Hằng được vào vai chính.
Mỗi diễn viên có một dấu ấn khác nhau, Thẩm Thúy Hằng cũng vậy. Hình ảnh của cô gắn liền với những tiên nữ có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, đẹp tựa Tây Thi, sánh tựa Điêu Thuyền. Cho đến tận bây giờ cũng chưa có nữ diễn viên nào sống trong lòng khán giả với nhan sắc diễm lệ như vậy. Công chúng ưu ái gọi cô là "Nữ hoàng của sân khấu đèn màu".
Nữ diễn viên đa năng
Không chỉ diễn xuất giỏi, Thẩm Thúy Hằng còn tỏ ra đa năng khi tự thành lập hãng phim riêng mang tên mình và sản xuất được nhiều bộ phim thành công rực rỡ như Nàng, Ngậm ngùi… Trên vai trò mới, Thẩm Thúy Hằng đã càng cho thấy cô là một người quyền lực và giỏi giang.
Ngoài lĩnh vực điện ảnh, Thẩm Thúy Hằng cũng tham gia các sân khấu kịch, cải lương để trải nghiệm khả năng diễn xuất đa dạng của mình. Ban Thẩm Thúy Hằng là một trong những ban kịch được yêu thích ở Sài Gòn thời gian ấy.
Trong vai trò trưởng ban, cô tỏ ra khá tài năng khi viết kịch bản, dàn dựng và đóng luôn vai chính. Tên tuổi của Thẩm Thúy Hằng trên sân khấu cải lương ngày đó có lẽ chỉ dưới Thanh Nga và một số diễn viên gạo cội khác.
Diễn viên đầu tiên dám khỏa thân và đóng cảnh nóng
Clip cảnh nóng của Thẩm Thúy Hằng trong phim Điệp vụ tìm vàngKhông chỉ diễn xuất giỏi, Thẩm Thúy Hằng còn là một nữ diễn viên bản lĩnh và táo bạo. Giữa lúc tư tưởng con người còn đang khá khắt khe và cổ hủ thì cô đã dám khỏa thân trên màn ảnh để khoe vẻ đẹp phồn thực của mình.
Không những vậy, Thẩm Thúy Hằng còn đóng cảnh nóng rất đạt, không hề có chút ngại ngần, quê mùa nào. Chỉ cần đạo diễn yêu cầu thế nào thì Thẩm Thúy Hằng sẽ diễn đúng như thế.
Chính sự chuyên nghiệp, cởi mở trong phong cách làm việc này đã khiến Thẩm Thúy Hằng được lòng nhiều đoàn làm phim nước ngoài, giúp cô vươn tầm châu lục.
Và có lẽ, Thẩm Thúy Hằng cũng chính là nữ diễn viên đầu tiên dám khỏa thân và đóng cảnh nóng trên màn ảnh Việt.
Ngoài ra, Thẩm Thúy Hằng còn là một biểu tượng thời trang dẫn đầu các xu hướng như cuốn khăn turban, đeo kính mắt mèo, kẻ viền mắt đen, thời trang ethnic… Cô nổi bật bởi phong cách quý phái.
Bi kịch trên đỉnh cao vinh quang
Đứng trên đỉnh cao của tiền bạc và danh vọng, nhưng cuộc sống cá nhân của Thẩm Thúy Hằng lại khá nhiều bi kịch.
Từ năm 19 tuổi, Thẩm Thúy Hằng đã phải lấy chồng theo sự dàn xếp của gia đình mà không có tình yêu. Cuộc hôn nhân này nhanh chóng tan vỡ sau 5 năm, khiến cô phải làm mẹ đơn thân. Đôi khi vì công việc diễn xuất bận rộn, Thẩm Thúy Hằng không còn thời gian chăm sóc con, khiến cô cảm thấy day dứt.
Sau khi thống nhất đất nước, Thẩm Thúy Hằng không ra nước ngoài định cư mà vẫn ở lại quê hương. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là cô phải từ chối nhiều lời mời đóng phim hay tham gia các sự kiện điện ảnh quốc tế, khiến cơ hội nổi tiếng giảm sút.
Tới năm 1970, Thẩm Thúy Hằng lên xe hoa lần thứ hai với một người đàn ông có vị trí lớn trong xã hội. Nhưng ông đã qua đời năm 2003, để lại mình cô lẻ loi.
Bi kịch lớn nhất cuộc đời Thẩm Thúy Hằng là hậu quả phẫu thuật thẩm mỹ. Nó khiến khuôn mặt cô bị biến dạng một cách kinh khủng.
Nhiều người cho rằng đó là hệ quả của việc đam mê thẩm mỹ để níu giữ thanh xuân. Nhưng theo một nguồn tin khác, Thẩm Thúy Hằng từng gặp tai nạn nghiêm trọng nên mới phải phẫu thuật khuôn mặt.
Từ một nhan sắc tuyệt trần, nay lại phải mang gương mặt biến dạng, là một nỗi đau tột cùng với Thẩm Thúy Hằng. Cô đã khép lại mọi cánh cửa giao lưu với thế giới bên ngoài, chỉ quanh quẩn trong nhà niệm Phật.
Kể từ đó, công chúng hầu như không còn được trông thấy nữ minh tinh màn bạc xuất sắc của nền điện ảnh Việt Nam nữa.












