HÔM QUA CÓ NGƯỜI HỎI VỀ TỪ GHÉP NÊN POST BÀI NÀY
Theo Đỗ Hữu Châu, “từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) riêng rẽ, tách biệt, độc lập với nhau”.
Hiểu một cách đơn giản, từ ghép là từ được tạo ra từ phương thức ghép. Đây là phương thức “dùng hai hoặc hơn hai đơn vị câu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những quy tắc nhất định để cho một từ, được gọi là từ ghép”. Nói cách khác, “các từ tố cơ sở đi vào phương thức ghép cho các từ ghép”
Cũng theo Đỗ Hữu Châu, “Ở tiếng Việt, các hình vị riêng rẽ, tách biệt, không đối lập với nhau theo kiểu của các ngôn ngữ Ấn – Âu thành căn tố, phụ tố mà chỉ phân biệt với nhau thành hình vị thực và hình vị hư. Cho nên, trong tiếng Việt chỉ có các từ ghép chân chính. Nếu căn cứ vào tính chất hình vị thì các từ ghép của tiếng Việt được phân loại thành từ ghép thực và từ ghép hư. Từ ghép hư là từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có. Đó là các từ như bởi vì, cho nên, để mà, huống hồ…”.
Ở các từ ghép hư, không thể xác lập rõ ràng quan hệ cú pháp giữa các hình vị trong từ như với từ ghép thực nên khó mà tìm hiểu mặt kết học giữa chúng. Ngược lại, các từ như “đi” với “chạy” vốn là thực từ nên dù kết hợp với kiểu hình vị nào cũng có thể tìm hiểu mặt kết học, quan hệ ngữ pháp của chúng.
Trong đó, “nếu căn cứ vào ba loại âm tiết kí hiệu theo giáo sư Phan Ngọc: A độc lập, B không độc lập, không đơn nhất, C không độc lập, đơn nhất, mất nghĩa thì có thể có các kiểu từ ghép như sau:
AA: đi đứng, chạy nhảy…
AB: tàu thủy, bạn hữu…
AC: trắng nõn, diều hâu, ốc bươu, bếp núc, chợ búa…
BA: hữu tình, bách bệnh, thiện ý, nóng hổi…
BB: đặc ngữ, phi hành…”
Mặc dù có những từ ghép ba, ghép bốn, hoặc hơn nữa, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn là ghép hai từ tố cơ sở. Đây cũng là từ ghép phổ biến, điển hình của “đi” và “chạy” khi kết hợp với các từ tố khác. Ví dụ: đi chợ, đi buôn, đi cày, chạy bàn… Từ ghép có hai từ tố cơ sở có thể có ba âm tiết như: tắc kè đốm, bồ câu trắng, thiên nga trắng, cà phê chồn…
Từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ là “những từ ghép giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ. Nếu kí hiệu từ tố chính là X, từ tố phụ là Y thì từ tố phụ có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố X”
Theo Đỗ Hữu Châu, “theo chiều quan hệ chính phụ giữa X và Y, ta có trật tự xuôi nếu X ở trước, Y ở sau, trật tự ngược nếu Y ở trước, X ở sau. Theo đặc điểm độc lập, không độc lập, có nghĩa, không có nghĩa, mất nghĩa, đơn nhất, không đơn nhất thì cũng có loại từ ghép AA, AB, AC, BA, BB. Trừ các từ ghép chính phụ AC bao giờ cũng có trật tự xuôi như: xanh lè, tím ngắt, nhảy cẫng… các loại từ ghép còn lại đều có hai trật tự xuôi và ngược”. Các trật tự này gồm có:
- Ghép chính phụ AA trật tự xuôi: đi đêm, đi tết, đi buôn, đi chợ…
- Ghép chính phụ AA trật tự ngược: học trò, chua me…
- Ghép chính phụ AB trật tự xuôi: giải lao, hưởng lạc, cưới chạy…
- Ghép chính phụ AB trật tự ngược: thánh thư, tội nhân, chạy án, đi hội…
- Ghép chính phụ BA trật tự xuôi: lưu khách, lâm trận…
- Ghép chính phụ BA trật tự ngược: hậu phương, tha phương…
- Ghép chính phụ BB trật tự xuôi: thưởng nguyệt, đa ngữ…
- Ghép chính phụ BB trật tự ngược: bán kết, chung kết…
Các từ ghép chính phụ có thể lớn hơn hai âm tiết, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn do hai từ tố đơn âm tạo nên. Đây cũng là kiểu ghép chính phụ phổ biến ở “đi” và “chạy”.
Có các kiểu từ ghép chính phụ hai âm tiết như sau:
a. Từ ghép chính phụ phân nghĩa
Đây là “những từ ghép chia loại lớn thành những loại nhỏ có quan hệ bao gồm và nằm trong so với loại lớn”. Nói cách khác, “phân nghĩa là cơ chế tạo ra các từ ghép theo quan hệ chính phụ giữa các từ tố, lập thành từng hệ thống nhỏ đồng nhất về yếu tố chỉ loại lớn X cả về hình thức ngữ âm, cả về ngữ nghĩa”.
Có bốn kiểu ghép phân nghĩa là:
- Từ ghép phân nghĩa biệt loại: là “những từ ghép phân nghĩa thường gặp và có tính năng sản cao, có nghĩa là kiểu cấu tạo của chúng hiện đang có khả năng tạo hàng loạt những từ ghép chính phụ mới phục vụ cho giao tiếp xã hội”. Đây cũng là loại ghép phân nghĩa điển hình, “trong đó Y có vai trò phân hóa X thành những loại nhỏ”. Ví dụ như chạy thầy, chạy chợ, chạy bàn…
- Từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa: là loại từ ghép mà “các từ tố phụ Y là các âm tiết C có tác dụng chỉ các sắc thái khác nhau của tính chất hay trạng thái, hoạt động do từ tố chỉ loại lớn X biểu thị”. Ví dụ như xanh lè, xanh um, vàng khè, vàng chóe…
- Từ ghép phân nghĩa đẳng nghĩa: là loại từ ghép mà “nghĩa của từ tố X và từ tố Y có phần nào đó đồng nghĩa với nhau”. Ví dụ như bánh ga tô, kẹo mè sửng, hoa cúc, cá rô, rắn cạp nong…
- Từ ghép phân nghĩa phụ gia hóa: là loại từ ghép “được chia thành những kiểu nhỏ hơn, mỗi kiểu nhỏ hơn có cùng một từ tố nghĩa rất khái quát”. Ví dụ như tổ trưởng, tổ viên, phi chính phủ…
b. Từ ghép chính phụ biệt lập
Đây là loại từ ghép mà “nghĩa của mỗi từ không có quan hệ nằm trong so với nghĩa của một loại lớn nào, không hợp thành hệ thống nghĩa so với những từ ghép chính phụ khác. Trong những từ ghép này, tuy vẫn có từ tố chính X, nhưng X không phải là một loại lớn”. Ví dụ như ruột gà, ruột mèo, ruột tượng…
c. Từ ghép chính phụ có các từ gốc Hán Việt
Loại từ ghép này khá phổ biến trong tiếng Việt. Ví dụ: đa nghĩa, đa ngữ, phi phàm, phi hành…
Từ ghép đẳng lập
Từ ghép đẳng lập là “những từ ghép trong đó hai từ tố bình đẳng với nhau, không có từ tố nào là chính, từ tố nào là phụ, cả hai từ tố góp nghĩa với nhau để cho nghĩa mới của toàn từ ghép”.
Trong đó, “xét theo tính chất độc lập, không độc lập, có nghĩa, mất nghĩa, đơn nhất, không đơn nhất thì các từ ghép đẳng lập có đủ các kiểu AA, AB, BA, AC và BB”. Ví dụ:
- Từ ghép đẳng lập AA: đi đứng, chạy nhảy, đi lại…
- Từ ghép đẳng lập AB: bạn hữu, thời đại…
- Từ ghép đẳng lập BA: quy hoạch, quy mô…
- Từ ghép đẳng lập AC: bếp núc, chợ búa…
Căn cứ vào nguồn gốc từ loại và quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ tố, có thể phân từ ghép đẳng lập thành các nhóm:
- Từ ghép đẳng lập gốc danh từ: bạn hữu, phố xá, bếp núc…
- Từ ghép đẳng lập gốc động từ: đi lại, chạy nhảy…
- Từ ghép đẳng lập gốc tính từ: chậm trễ, đen tối, nóng nực…
- Từ ghép đẳng lập gốc chỉ số: vài ba, dăm bảy, tám chín…
- Từ ghép đẳng lập gốc từ hư: này kia, này nọ, đây đó…
Ngoài ra, còn có các loại từ ghép đẳng lập:
a. Ghép đẳng lập theo cơ chế nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, “nếu cho nghĩa của toàn bộ từ ghép là S thì nghĩa S của một từ ghép đẳng lập không do nghĩa của một từ tố quyết định như nghĩa của từ ghép biệt loại mà là kết quả của sự hợp nhất nghĩa của từng từ tố mà có”. Kết quả của sự hợp nghĩa cho ra ba loại từ ghép theo cơ chế nghĩa như sau:
- Ghép tổng loại: là “nghĩa của từng từ tố gộp lại tạo nên S, S chỉ một loại lớn hơn, rộng hơn". Ví dụ như anh em, cam quýt, hổ báo…
- Ghép đẳng lập chuyên loại: là “nghĩa S của toàn bộ từ ghép đẳng lập khồng lớn hơn về loại so với loại do từ tố biểu thị”. Ví dụ như thuốc thang, gà qué, chợ búa…
- Ghép phối nghĩa: là “những trường hợp mà nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại mà do sự phối hợp nghĩa của các từ tố mà thành”. Ví dụ như gang thép, điện máy, điện nước…
b. Ghép đẳng lập biệt lập
Đây là loại từ ghép mà “nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại, cũng không phải là phối nghĩa. Mỗi nghĩa là một sự kiện, một hoạt động, một tính chất riêng”.
Cơ chế từ loại từ ghép này theo chúng tôi là A+B = A’B’. Ví dụ như: gian ác, độc ác, gian xảo…
Các thế hệ từ ghép
Các kết hợp từ ghép luôn vận động, biến đổi không ngừng trong hoạt động hành chức để sinh ra những thế hệ từ tiếp theo của chúng. Thế hệ cấu tạo từ ghép được hiểu là “các từ tố kết hợp với nhau cho ta một từ phức thuộc thế hệ thứ nhất. Các từ này lại được đưa vào phương thức đã sản sinh ra chúng để cho ta các từ ghép thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba từ các từ thuộc hệ thứ nhất đó”.
Ví dụ, từ tố “xe” kết hợp với từ tố “đạp” cho ta từ ghép “xe đạp” thuộc thế hệ thứ nhất. “Xe đạp” lại được đưa vào phương thức ghép chính phụ biệt lập cho ta các từ thuộc thế hệ thứ hai như xe đạp điện, xe đạp đua, xe đạp cào cào…












