NSND Lê Dung
Nói về tiếng hát Lê Dung, ai cũng phải ngợi ca về sự ngọt ngào, da diết hiếm có trong một chất giọng opera/cổ điển được đào tạo bài bản. Lê Dung đương nhiên hát đẹp, rất đẹp, có thể nói là đẹp bậc nhất trong các giọng soprano Việt Nam, vì dám chắc rằng ít có ca sĩ nào thuộc thế hệ trước nắm vững vàng được nghệ thuật hát đẹp bel canto của Ý như bà.
Những note nhạc Lê Dung hát không những chắc chắn trong từng làn hơi mà còn rất trau chuốt, mượt mà, đạt được độ ổn định cao về âm vực, kỹ thuật. Bằng kĩ thuật thượng thừa, Lê Dung gần như đã khai thác tối đa ưu thế trong loại giọng light lirico soprano của mình.
Làn hơi khỏe, dài, kèm theo sự hỗ trợ tốt về hơi thở giúp Lê Dung có được những leagto mượt mà, ít gợn, không phô chênh, vênh note, mà lại rất linh hoạt.
Kĩ thuật fortissimo của Lê Dung khá tốt, bà có thể điều khiển âm lượng to đột biến trên các chuỗi crescendo.
Đặc biệt, ở những đoạn fortissimo trên quãng cao C6 (Đô cao), bà thực hiện rất tốt, dù hơi gắt do đặc trưng riêng của loại giọng, nhưng vẫn khá đẹp. Nếu ai đã từng nghe Lê Dung hát trực tiếp aria Brindisi trong vở La Traviata hẳn không khỏi quên được khoảnh khắc bà đẩy giọng lên C6 ở đoạn cao trào vô cùng nội lực.
Staccato của Lê Dung cũng rất vững. Trong bài Cô gái vót chông, bà phiêu đoạn giả tiếng chim trên quãng 6 mượt mà, rõ ràng mà linh hoạt, không bị căng thẳng, vênh note như nhiều ca sĩ khác.
Khả năng điều khiển âm lượng của Lê Dung vô cùng đáng nể, đoạn cuối aria Pace, pace mio dio trong vở La Forza del Destino, bà đã thực hiện vuốt giọng nhỏ dần rồi chuyển sang to đột biến trên cùng một legato.
Đương nhiên không thể không nhắc tới kĩ thuật pianissimo (hát nhỏ tiếng), một trong những lợi thế của giọng nữ cao trữ tình mà Lê Dung phát huy tốt. Trong aria O mio babbino cano, bà đã thực hiện chuyển giọng xuống những note pianissimo rất đẹp, vang, mượt trên một legato.
Giọng hát Lê Dung còn tỏ ra khá linh hoạt, biến hóa khi tạo màu sắc ả đào, ca trù.
Không chỉ là con chim sơn ca đầu đàn, là cây đại thụ của thanh nhạc cổ điển Việt Nam, Lê Dung còn thành công ở cả mảng nhạc nhẹ. Bà là một trong những tiếng hát nhạc nhẹ được ưa chuộng ở những thập niên trước, với nhiều ca khúc trữ tình như Họa mi hót trong mưa, Mưa trên biển vắng, Bâng qươ, Hoa sữa, Mùa đông của anh, Sơn nữ ca…
NSND Thanh Hoa
Nghệ sĩ nhân dân Thanh Hoa có lẽ là tiếng hát nữ thành công nhất miền Bắc trong suốt hai thập niên 70 và 80.
Từng có một thời, tiếng hát Thanh Hoa được nhà nhà yêu mến, người người ưa chuộng, vang lên khắp mọi nơi trên miền Bắc, qua đài phát thanh và băng cát xét. Bà là một trong những ca sĩ thu âm nhiều nhất Đài tiếng nói Việt Nam với 400 bản thu từ nhạc cách mạng tới nhạc nhẹ.
Thanh Hoa nổi tiếng bởi chất giọng đặc trưng không thể lẫn với bất cứ ca sĩ nào khác. Tiếng hát của bà sáng, mảnh nhưng vẫn ấm áp và đặc biệt giản dị, mộc mạc, hát như nói, nhiều luyến láy dân ca, thích hợp để biểu đạt cảm xúc một cách tự sự, trữ tình, đại chúng nhất.
Tuy không sử dụng quá nhiều kĩ thuật, nhưng bằng sự mộc mạc, lối hát rất riêng trong một tiếng hát có âm sắc đặc biệt, Thanh Hoa đã đóng đinh tên tuổi ở nhiều ca khúc nổi tiếng như Tàu anh qua núi, Mùa xuân làng lúa làng hoa, Em chọn lối này, Bác Hồ một tình yêu bao la, Gà gáy le te, Tình yêu trên dòng sông quan họ… để tạo nên một chất nhạc, phong cách độc đáo, mà nhiều ca sĩ sau này dù cố thể hiện điêu luyện thế nào cũng không thể hay như bà.
Giọng hát Thanh Hoa không hẳn là nhiều màu sắc, nhưng giàu tự nhiên và mềm mại tới mức có thể hát hay và truyền tải đúng điệu hồn của rất nhiều loại nhạc trên khắp mọi miền đất nước, từ vùng núi cao Tây Bắc tới làng quan họ, tới xứ Huế miền Trung hay sông nước miền Nam. Đặc biệt, bà có lợi thế rất lớn khi hát dân ca của các dân tộc thiểu số.
Có thể nói, giọng hát Thanh Hoa đã đạt tới sự tự nhiên, thân quen tới mức, nó giống như một tiếng hát quần chúng bất kì nào đó chúng ta có thể bắt gặp trên mọi nẻo đường cuộc sống. Đó có thể là tiếng hát của một thiếu nữ, một quả phụ, một em thiếu nhi, một nữ chiến sĩ… Nhưng trên hết, tiếng hát ấy vẫn là tiếng hát của một nghệ sĩ nổi tiếng.
NSND Bảy Nam
Cố nghệ sĩ nhân dân Bảy Nam được xem như một tổ nghề của cải lương và kịch nói Nam Bộ, đủ để hiểu vị trí của bà lớn thế nào.
Đi hát từ năm 14 tuổi, NSND Bảy Nam đã kiến tạo rất nhiều kỉ lục. Bà là nữ bầu gánh đầu tiên trong lịch sử cải lương (19 tuổi đã lập gánh hát - gánh Nam Hưng), nữ tác giả kịch bản đầu tiên của Sài Gòn với vô số kịch bản: Nỗi đau lòng mẹ, Người đàn bà Việt Nam, Gươm vàng máu đỏ, Điều Tam Xuân, Tiêu Anh Phụng, Phấn hậu cung...
Bà cũng là nữ nghệ sĩ Sài Gòn đầu tiên được Hãng Intermondial Film của Pháp mời đóng trong bộ phim Mort en fraude của đạo diễn Marcel Camus bên cạnh các diễn viên lừng danh thế giới.
Giáo sư Hoàng Như Mai từng viết: “Nghệ sĩ sân khấu, nếu thật sự là nghệ sĩ tài năng, là bảo vật vô giá của nhân loại, không vàng ngọc nào sánh được. Nghệ sĩ Bảy Nam là một trong số quí hiếm ấy”.
NSND Tường Vi
Nghệ sĩ nhân dân Tường Vi được học hành rất bài bản. Bà từng thi đỗ và khoa Thanh nhạc Nhạc viện Hà Nội và được đi học chuyên sâu 4 năm tại nhạc viện Sofia, Bulgaria.
Tường Vi sở hữu chất giọng nữ cao màu sắc linh hoạt, có thể lên head voice staccato tới F6. Nhiều bản ghi âm của bà đã thành chuẩn mực thanh nhạc để nhiều thế hệ ca sĩ học hỏi.
Trong những năm chiến tranh, bà đã theo đoàn văn công đi biểu diễn nhiều nơi trên các chiến trường. Tường Vi nổi tiếng với nhiều ca khúc trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, như Tiếng đàn Ta Lư (Huy Thục), Cô gái vót chông (Hoàng Hiệp, thơ Molovklavi), Em là hoa Pơ Lang (Đức Minh), Người con gái sông La (Doãn Nho), Cánh chim báo tin vui (Đàm Thanh), Người lái đò trên sông Pô Cô (Cẩm Phong, thơ Mai Trang), Bóng cây Kơ-nia (Phan Thanh Nam, thơ Ngọc Anh), Suối Lenin, Con suối và mặt trời, Hà Nội có ta trong tiếng hát.... Tường Vi còn đi biểu diễn nhiều nước như Liên Xô, Ba Lan, Chile, Cuba... Bà cũng là một trong số ít ca sĩ được nhiều lần biển diễn trước Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tường Vi có chất giọng nữ cao, sáng, mang giọng Trung Bộ. Bà hát được nhiều thể loại như dân ca, nhạc cách mạng, nhạc thính phòng. Một trong những ca khúc làm nên tên tuổi của bà là Cô gái vót chông, trong ca khúc này, bà có hát thêm một đoạn staccato giả tiếng chim hót rất nổi tiếng, sau này các ca sĩ đều phải hát thêm đoạn này như điều bắt buộc.
NSND Thu Hiền
Thu Hiền có lẽ là một trong số ít nghệ sĩ nhân dân được đông đảo khán giả yêu mến và biết đến nhiều nhất.
Bà sở hữu chất giọng nữ cao trữ tình đầy đặn, ấm áp mà lại ngọt ngào, với những lối luyến láy dân ca giản dị, chân thành nhưng đầy nhạc tính, trầm bổng.
Thu Hiền cũng là nghệ sĩ thứ hai sau Thanh Huyền thành công trong việc lồng ghép dân ca vào nhạc cách mạng, đem âm nhạc dân gian dân tộc phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Bà nổi tiếng với những bản dân ca từ mọi miền đất nước. Trong nhiều năm qua, Thu Hiền vẫn là tiếng hát dân ca được yêu thích nhất, không thể thay thế.
NSND Thanh Huyền
Nghệ sĩ nhân dân Thanh Huyền là một trong những tiếng hát xuất sắc nhất của nền dân ca truyền thống và nhạc cách mạng Việt Nam.
Chất giọng của Thanh Huyền vang bẩm sinh, sáng đẹp, mềm mại và mượt mà như dòng suối. Bà là một trong những thế hệ ca sĩ đầu tiên biết kết hợp kĩ thuật thanh nhạc cổ điển phương Tây với những lối hát cổ truyền của dân tộc, nói nôm na là kết hợp thành công giữa lối hát mở, hát đẹp kiểu bel canto với lối hát khép tiếng trong dân ca phía Bắc. Nhờ vậy, bà đã tạo nên được những màu sắc rất mới, rất riêng khi hát dân ca, đảm bảo cho một giọng hát đầy kĩ thuật mà vẫn thấm nhuần nét truyền thống, dân tộc.
Thanh Huyền cũng thường được ngợi ca về cách hát tròn vành, rõ chữ, hát âm nào nảy và vang âm đó, đúng chuẩn “vang, rền, nền, nảy”.
Là một trong những tiếng hát quan họ hay nhất miền Bắc, Thanh Huyền đã thổi hồn dân ca thành công vào nhạc cách mạng, tạo nên điệu hồn dân tộc thấm đẫm trong những ca khúc nhạc cách mạng.
Với thành công trong sự nghiệp, Thanh Huyền đã được lưu diễn khắp năm châu, đem dân ca Việt Nam tới mọi miền thế giới. Bà là thế hệ đầu tiên được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân và đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước.
NSND Phùng Há
Cũng như Bảy Nam, cố nghệ sĩ nhân dân Phùng Há được xem như tổ nghề của cải lương Nam Bộ.
Không chỉ đóng góp to lớn với nghề cải lương qua hàng trăm kịch bản diễn khác nhau, Phùng Há còn có công trời biển trong việc đào tạo, dẫn dắt nhiều thế hệ nghệ sĩ sau này. Rất nhiều nghệ sĩ cải lương gạo cội hiện nay là học trò của bà.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Phùng Há đã đi tới mọi hang cùng ngõ hẻm ở miền sông nước Nam Bộ để diễn cho nhân dân xem. Đến đâu bà cũng được chào đón nồng nhiệt, vé bán không còn thừa một chỗ.
Nhạc sĩ Chí Tâm từng nói: “Đối với thế hệ chúng tôi, má Bảy là một ngôi sao Bắc Đẩu trên vòm trời sân khấu cải lương. Má chính là tấm gương để chúng tôi noi theo ước nguyện: Dù sân khấu có khó khăn đến đâu vẫn nghiêm túc trong sáng tạo. Tôi nhớ lời má dạy: Khi không còn là kép, là đào chánh thì chuyển sang đóng vai lão. Ở vị trí nào thì người nghệ sĩ hãy làm tốt vai diễn của mình. Có như vậy mới xứng đáng được công chúng thương yêu”.
NSND Út Trà Ôn
Cố nghệ sĩ nhân dân Út Trà Ôn cũng là một trong những tổ nghề của cải lương Nam Bộ.
Ông sở hữu tiếng hát ấm áp, giản dị, mộc mạc mà sâu sắc, toát lên đậm đà điệu hồn, tiếng nói miền sông nước Nam Bộ.
Không chỉ với cải lương, Út Trà Ôn còn là tên tuổi lớn nhất của đờn ca tài tử, khiến vô số thế hệ sau này phải học hỏi.
NSND Quách Thị Hồ
Được một bộ phận khán giả không quá nhiều biết đến, nhưng Quách Thị Hồ xứng đáng là một tượng đài âm nhạc Việt Nam. Bà là người có công lao to lớn trong việc bảo tồn và phát huy ca trù, loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, nhưng lại đang dần bị mai một.
Bà cũng là nghệ nhân ca trù đầu tiên đem ca trù tiến ra thế giới bằng việc thu âm và lưu diễn ở nước ngoài.
Quách Thị Hồ có một giọng hát đặc biệt, cùng tiếng phách điêu luyện đã chinh phục nhiều người thưởng thức. Người ta nói rằng: "Có người ví tiếng hát của Quách Thị Hồ đẹp và tráng lệ như một tòa lâu đài nguy nga, lộng lẫy, mà mỗi một tiếng luyến láy cao siêu tinh tế của bà là một mảng chạm kỳ khu của một bức cửa võng trong cái tòa lâu đài ấy. Tiếng hát ấy vừa cao sang bác học, vừa mê hoặc ám ảnh, diễn tả ở mức tuyệt đỉnh nhất các ý tứ của các văn nhân thi sĩ gửi gắm trong các bài thơ.
Bà nắm giữ kĩ thuật đổ hột con kiến, một loại kĩ thuật thanh nhạc cấp cao vô cùng khó mà không phải ai cũng làm được. Kĩ thuật tạo ra âm thanh rền, nảy, cuộn sóng ngầm như tung ra những chuỗi hột xoàn từ cổ họng.
Hội đồng Âm nhạc Quốc tế của UNESCO và Viện Nghiên cứu Quốc tế về Âm nhạc đã trao tặng bà bằng danh dự cho công lao "gìn giữ một di sản nghệ thuật truyền thống quý báu của Việt Nam, một vốn quý của nhân loại".
Có thể thấy, khi xưa, những người được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân đều là những tài năng hiếm có, có cống hiến to lớn với nghệ thuật nước nhà, khiến nhân dân ai cũng nể phục. Còn ngày nay, nhiều nghệ sĩ chưa đủ tầm nhưng lại được phong tặng khiến nhân dân hoài nghi, tranh cãi, không nể phục.
NSND Quang Thọ
Sở hữu giọng nam trung dày dặn, ấm áp và đậm chất thính phòng cổ điển với kĩ thuật vững chắc, nghệ sĩ nhân dân Quang Thọ đã cùng với cố nghệ sĩ nhân dân Lê Dung tạo nên cặp song ca đầu đàn của nền nhạc thính phòng, cách mạng Việt Nam.
Quang Thọ đã từng đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước và giữ vị trí chủ nhiệm khoa Thanh nhạc – Nhạc viện Hà Nội. Ông là người thầy lớn, đã đào tạo rất nhiều ca sĩ nổi tiếng, có chuyên môn ở Việt Nam hiện nay như Tùng Dương, Khánh Linh…
NSND Quốc Hương
Cố nghệ sĩ nhân dân Quốc Hương nổi tiếng với tiếng hát mộc mạc, giản dị, nhưng chất chứa cảm xúc, thấm đẫm hơi thở dân tộc, đại diện cho một thời bão lửa mà hào hùng.
Dù kĩ thuật không nhiều, nhưng Quốc Hương sở hữu chất giọng nam cao đầy đặn với âm lượng lớn, chắc chắn, nhưng ngọt ngào với lối hát nhỏ tiếng thi vị.
NSND Trung Kiên
Có lẽ Trung Kiên là nghệ sĩ nhân dân hiếm hoi đạt tới học vị giáo sư và giữ một chức vụ khá cao – thứ trường Bộ Văn hóa Thông tin.
Dù ít tham gia ca hát trên sân khấu, nhưng nghệ sĩ nhân dân Trung Kiên có đóng góp lớn trong việc giảng dạy, dẫn dắt các nghệ sĩ đàn em. Diva Thanh Lam hiện vẫn tìm đến học thanh nhạc với ông.
Long Phạm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét