Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Whitney Houston - Queen of head voice trong âm nhạc đại chúng

Head voice (còn gọi là giọng đầu/giọng óc/giọng giả thanh) là một quãng giọng và một loại kĩ thuật sử dụng giọng hát của con người. Với các giọng nữ trong âm nhạc cổ điển, việc sử dụng head voice là một điều bắt buộc để thể hiện ca khúc. Cũng vì thế, các nữ ca sĩ cổ điển thường phải luyện tập rất bền bỉ và công phu để đạt đến trình độ sử dụng head voice tinh xảo. Với ca sĩ đại chúng chủ yếu hát bằng giọng thật, việc sử dụng head voice không bị bắt buộc, có thể dùng hoặc không, và nếu có dùng cũng chỉ điểm xuyết một số chỗ nhất định chứ không phải hát trong trong toàn bộ ca khúc. Vì thế, việc sử dụng và phô diễn head voice sao cho điêu luyện, tinh tế, hấp dẫn khán giả dường như thuộc về khả năng cảm nhạc, tự học hỏi, thẩm mỹ âm nhạc, tư duy, sự sáng tạo của ca sĩ nhiều hơn là việc được đào tạo bài bản một cách mô phạm. Do tính chất tự do, không bắt buộc của nhạc đại chúng nên những ca sĩ sử dụng head voice đến mức tinh diệu rất ít, và Whitney Houston là một trong những đỉnh cao nhất.



Điều đặc biệt nhất ở Whitney là cô không hề trải qua bất cứ trường lớp chuyên nghiệp nào. Tất cả những gì về head voice mà Whitney có được phần lớn nhờ sự dạy bảo của người mẹ là ca sĩ gospel Cissy Houston và do được lớn lên trong môi trường âm nhạc da màu với mẹ đỡ đầu là bà hoàng nhạc soul Aretha Franklin, người chị họ là ca sĩ nổi tiếng Dionne Warwick, cùng những người bạn thân thiết như ca sĩ Cece Winans, ca sĩ Chaka Khan, cộng thêm việc tự học hỏi các đàn anh, đàn chị đi trước, nhưng lại đạt đến một đẳng cấp head voice mà bất cứ ca sĩ nào cũng phải mơ ước. Ngoài ra, tôi cũng cho rằng, khả năng sử dụng head voice đến mức tinh diệu ở Whitney có mối liên quan tới diva opera Leontyne Price, người bà họ hàng xa của cô.

Trước khi đi vào phân tích, xin tóm gọn về khả năng sử dụng head voice tinh diệu của Whitney Houston trong mấy ý sau:

- Head voice có tính lirico, spinto và coloratura.

- Head voice có âm sắc của soprano và mezzo soprano.

- Head voice có âm sắc đẹp lạ thường.

- Head voice pha trộn cổ điển và hiện đại.

- Khả năng điều khiển âm lượng, tốc độ âm thanh bậc thầy trên head voice.

- Khả năng thực hiện nhiều kĩ thuật hoa mỹ trên head voice.

- Khả năng truyền tải cảm xúc mãnh liệt trên head voice.

- Khả năng sáng tạo vô biên trên head voice.

- Những tiên phong và cống hiến to lớn với âm nhạc đại chúng ở head voice.




1. Head voice có tính đa dạng và linh hoạt bậc cao

1.1. Head voice mang âm sắc của cả soprano và mezzo soprano

Vì Whitney có sự chuyển đổi loại giọng rõ rệt từ soprano sang mezzo nên head voice của cô cũng tương tự như vậy. Ở giai đoạn debut, head voice của cô mang âm sắc thanh, cao và sáng hơn, đúng nghĩa một soprano.

https://www.youtube.com/watch?v=GZoDTfzftnU

https://www.youtube.com/watch?v=CzMJw77ueJU

Đến giai đoạn sau mezzo, head voice cô trở nên dày và tối hơn.

https://www.youtube.com/watch?v=3BBgfG_CD_A

https://www.youtube.com/watch?v=6NkZSRYGtQA

1.2. Head voice mang sắc thái đa dạng

Whitney là một giọng spinto nên head voice của cô tận dụng triệt để được tính trữ tình và kịch tính ở những đoạn cao trào của loại giọng này. Ở các đoạn head voice trữ tình, cô sở hữu những đường legato mượt mà, bồng bềnh, vô cùng ấm áp và ngọt ngào. Tính nhẹ nhàng, mềm mại này hầu như không có ở các giọng hát da màu vốn đanh, dày, to, kịch tính. Người ta nói giọng hát Whitney là sự pha trộn giữa da màu và da trắng là vì vậy. Hãy thưởng thức những đoạn head voice trữ tình của cô qua các ca khúc sau:

0:43
https://www.youtube.com/watch?v=OCepTmI6nUg

0:04
https://www.youtube.com/watch?v=diToYaNJadk

0:46
https://www.youtube.com/watch?v=b8-FDizY-PA

Cô có thể hát cả bài với rất nhiều đoạn head voice mềm mại, ngọt ngào, chêm xen ở đầu hoặc đuôi câu hát. Chính việc chêm xen head voice một cách nhẹ nhàng, tinh tế, đôi khi màu sắc và cách chuyển giọng linh hoạt từ mix - falsetto - head voice to nhỏ, đảo nhau liên tục như vậy giúp Whitney tạo ra chất trữ tình - màu sắc đặc trưng khi hát nhạc gospel, khác hoàn toàn với lối hát kịch tính "xôi thịt" của các ca sĩ gospel da màu khác. Nhờ đó, Whitney đã có được thương hiệu nhạc gospel của riêng mình, khiến rất nhiều ca sĩ gospel giọng to, khỏe, kĩ thuật hơn cô phải mơ ước. Có một nhà phê bình từng nói rằng, ngày nay không có ca sĩ nào hát được gospel giống như Whitney đã từng làm. Hãy nghe các ca khúc gospel sau để cảm nhận điều đó:

https://www.youtube.com/watch?v=Vbrgwz9g_5g

https://www.youtube.com/watch?v=bflUJjH-puo

https://www.youtube.com/watch?v=XagR_T3K3KY

Với khả năng điều khiển hơi thở bậc thầy, Whitney có thể đổ những chuỗi head voice nhỏ li ti nhờ kĩ thuật pianissimo (kĩ thuật hát nhỏ tiếng (rất nhỏ) trong opera bel canto) hoặc chuyển đổi âm lượng nhỏ dần rất tinh tế. Rõ ràng, khả năng hát pianissimo là một lợi thế của giọng trữ tình mà rất hiếm ca sĩ da màu nội lực nào có được.

5:21 - nhả head voice rất nhẹ nhàng, thoải mái trên quãng âm thấp
https://www.youtube.com/watch?v=k-orpHbXbJE

0:33
https://www.youtube.com/watch?v=Vbrgwz9g_5g

0:50
https://www.youtube.com/watch?v=cyysDOc4TI4

1:34 - đổ head voice và vibrato ở quãng âm rất thấp
https://www.youtube.com/watch?v=5e9aqfi2aro

0:50
https://www.youtube.com/watch?v=Df5aaUbRx_s


Nhưng là một spinto, Whitney vẫn đủ sức đẩy head voice của mình lên đến mức gần kịch tính (tất nhiên là không được như các giọng thuần kịch tính), để tạo ra những cơn bão cảm xúc trên sân khấu. Cũng như pianissimo, kĩ thuật fortissimo (hát to tiếng) trên cressendo (chuỗi tăng dần âm lượng) được Whitney sử dụng rất thành thục trong nhạc pop.

7:14
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

2:52 - thể hiện đúng chất hùng tráng, mạnh mẽ của quốc ca
https://www.youtube.com/watch?v=Z1QmeEdFOSc

3:45
https://www.youtube.com/watch?v=RcCNp8YWAnw

4:18
https://www.youtube.com/watch?v=fSBNi8PCb7Q

4:37
https://www.youtube.com/watch?v=0eGIo_SCrN8

10:05
https://www.youtube.com/watch?v=YtAoIX4698M

Khác với tất cả các spinto hay lirco khác, head voice của Whitney còn có tính màu sắc linh hoạt, khiến nhiều người cho rắng, nếu được học opera bài bản, cô sẽ trở thành một giọng nữ cao màu sắc chứ không phải spinto mezzo. Các kĩ thuật màu sắc trong head voice của Whitney sẽ được trình bày ở phần sau.

2. Kĩ thuật thượng thừa

2.1. Head voice mang tính operatic


Tự thân head voice đã mang bản chất operatic, được phân biệt với falsetto. Nhưng không nhiều ca sĩ đại chúng có thể làm nổi rõ tính operatic trên head voice như Whitney. Để làm được điều này, Whitney phải sở hữu một nền tảng kĩ thuật vững chắc, mới có thể kiểm soát hơi thở và đặt đúng vị trí âm thanh để hát những đoạn head voice với tần số rung nhanh, độ rền lớn đến như thế. Mời xem các live sau để thấy được điều này.

4:14 - vibrato với tần số nhanh trên head voice
https://www.youtube.com/watch?v=uUmmPexm_Uo

5:41
http://mp3.zing.vn/bai-hat/I-Will-Always-Love-You-The-Concert-For-A-New-South-Africa-Whitney-Houston/ZW6E8ZIZ.html

Tất nhiên, không thể không nhắc tới màn hát ngẫu hứng một đoạn nhỏ của Whitney trong La Donna e Mobile - aria nổi tiếng opera. Những chuỗi head voice được cô phát âm và phóng ra với tần số rung nhanh, độ rền lớn, màu sắc đậm chất opera. Nếu chỉ nghe mà không nhìn hình ảnh, sẽ chẳng ai biết đây là một ca sĩ chưa từng học qua một trường lớp thanh nhạc chính thống nào.

https://www.youtube.com/watch?v=Q2mMPz_a4vY

2.2. Những kĩ thuật thượng thừa ở head voice

Là một bậc thầy sử dụng head voice trong âm nhạc đại chúng, Whitney luôn sáng tạo và vận dụng những kĩ thuật phức tạp vào head voice của mình để biến tấu nó một cách linh hoạt nhất. Xin được giới thiệu một số kĩ thuật được sử dụng trong head voice của cô.

- Trong giới ca sĩ da màu, Whitney được nể phục vì khả năng kiểm soát hơi thở và âm lượng bậc thầy. Khả năng này được thể hiện rõ nhất trên head voice. Đây là kĩ thuật căn bản của opera bel canto mà Whitney đã học tập và vận dụng vào nhạc pop/r&b, đem đến một luồng gió mới cho âm nhạc thế giới (tất nhiên ở một ca sĩ pop, không thể đòi hỏi phải đạt tới chuẩn mực của ca sĩ opera). Trong thanh nhạc cổ điển, việc hát to nhỏ trong một làn hơi mềm mại, legato được gọi là HÁT ĐẸP. Một trong những năng lực đặc biệt của Whitney là bắn ra chuỗi âm lượng khác nhau trên nhiều cao độ. Hãy nghe cô duy trì F5 note ở các chữ "You" trong màn live sau.

3:12
https://www.youtube.com/watch?v=cyysDOc4TI4

Khi ca hát, đặc biệt với các giọng ca lớn, việc hát nhỏ tiếng (pianissimo) được coi là khó hơn nhiều so với hát to. Vì nhả hơi để điều khiển âm lượng nhỏ dần và nhỏ li ti trong một làn hơi dài kèm theo các kĩ thuật hoa mỹ trên những note cao thấp khác nhau không phải việc đơn giản. Nó đòi hỏi bạn phải có một hơi thở dài, khỏe khoắn và kiếm soát được nó một cách chắc chắn. Những ca sĩ đại chúng có thể hát pianissimo được như Whitney không nhiều. Và quan trọng hơn cả là cô đã sáng tạo nó thành công ở dòng nhạc R&B, mở màn cho những màu sắc âm nhạc mới, chứ không chỉ đơn giản là phô diễn việc hát to hát nhỏ cho đúng kĩ thuật. Ở kĩ năng phô diễn quãng mezzo piano (hát mềm mại, vừa phải), Whitney thậm chí có thể nhẹ nhàng hơn, với âm lượng rất nhỏ trên một chuỗi hơi dài bất tận.

4:07, 5:01, 5:11
https://www.youtube.com/watch?v=m315tMMOMt0

4:41, 5:00, 5:10
https://www.youtube.com/watch?v=CzMJw77ueJU

5:43
https://www.youtube.com/watch?v=lDcKu8L95tg

4:10, 5:00, 5:12
https://www.youtube.com/watch?v=lS1Cl9VZ36I

3:32
https://www.youtube.com/watch?v=GZoDTfzftnU

3:30 - rất mềm
https://www.youtube.com/watch?v=UwjdRC1PiUw

3:48 - rất mềm
https://www.youtube.com/watch?v=4NMOaZhYWgE

3:29
https://www.youtube.com/watch?v=WduniUgAkC8

2:20
https://www.youtube.com/watch?v=5e9aqfi2aro

1:57
https://www.youtube.com/watch?v=ipQ0fE0MRWQ

2:46
https://www.youtube.com/watch?v=-_swWLNcXXY

0:52
https://www.youtube.com/watch?v=Ka0sgVcUTrM


Đối lập với pianissimo là fortissimo (hát to tiếng). Ở điểm này, Whitney đã làm rất tốt như nhiều ca sĩ da màu khác, với những đoạn head voice căng tràn, nội lực, đanh dày, nhưng cũng không kém phần mượt mà.

2:08
https://www.youtube.com/watch?v=bflUJjH-puo

2:30
https://www.youtube.com/watch?v=Vbrgwz9g_5g

10:04
https://www.youtube.com/watch?v=YtAoIX4698M

0:38 - đẩy head voice G5 đậm tính operatic
https://www.youtube.com/watch?v=Q2mMPz_a4vY

Không dừng lại ở đó, năng lực làm chủ âm lượng cho phép Whitney có thể biến đổi âm lượng to nhỏ bồng bềnh theo hình sin xuyên qua chuỗi cressendo (tăng dần âm lượng).

2:21
https://www.youtube.com/watch?v=5e9aqfi2aro

Whitney thậm chí còn sử dụng được messa di voce (to - nhỏ - to trên một hơi), một trong những kĩ thuật khó của opera bel canto.

21:10
https://www.youtube.com/watch?v=PjMnh4bMWfM&list=RDPjMnh4bMWfM#t=484

Không giống những ca sĩ khác, Whitney có thể điều khiển âm lượng từ ban đầu và kiểm soát tốc độ phát triển âm thanh qua các đoạn cressendo subito (tăng lập tức) và cressendo poco a poco (tăng dần dần). Cressendo của cô rất điêu luyện, cô có thể thực hiện chúng ở nhiều quãng khác nhau. Ví dụ:

5:55 - Dal Niente
https://www.youtube.com/watch?v=lDcKu8L95tg

Kỉ lục giữ head voice của Whitney là 15 giây, đủ để thấy hơi thở của cô dài tới nhường nào.

1:27:23
https://www.youtube.com/watch?v=PjMnh4bMWfM&list=RDPjMnh4bMWfM#t=484

- Một điều đáng chú ý ở chuỗi âm lượng lớn của Whitney, là cô có thể làm nó sáng hơn và thực hiện trên hầu hết các đoạn chạy note. Đặc biệt hơn nữa, dù có chạy note nhanh đến thế nào, cô vẫn giữ được sự chính xác gần như tuyệt đối trên chuỗi note đó. Hãy xem các ví dụ sau để thấy được cách cô duy trì vibrato trên nhiều tốc độ khác nhau.

6:26 - Nhanh
https://www.youtube.com/watch?v=2aVByaDMpyk

2:55 - Rất nhanh
https://www.youtube.com/watch?v=CzMJw77ueJU


Trong những đoạn chạy note, Whitney cũng có nhiều quãng chuyển giọng từ giọng thật sang head voice với sự duy trì, ổn định cao trên tốc độ nhanh, mà vẫn đong đầy cảm xúc. Xem các ví dụ sau để thấy khả năng chuyển giọng tài tình của cô.

3:37 tới 3:48
https://www.youtube.com/watch?v=RcCNp8YWAnw

4:09
https://www.youtube.com/watch?v=oZJWo6-km5o

4:17
https://www.youtube.com/watch?v=fSBNi8PCb7Q

5:36, 5:47. 6:46
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

2:36 tới 2:56
https://www.youtube.com/watch?v=Ip9i5NleIzE

4:40 - Chuyển head khi đang căng một làn chest mix rất dài hơi trước đó, đòi hỏi một túi hơi rất lớn
https://www.youtube.com/watch?v=ipQ0fE0MRWQ

2:50
https://www.youtube.com/watch?v=vR0kWX9zCR4

3:16 - Chuyển head trong một làn hơi rất dài
https://www.youtube.com/watch?v=t3htnObbDCs

1:03:29 - Chuyển từ belting cressendo sang head voice pianissimo tài tình. Đây là kĩ thuật độc đáo mà hầu như không ca sĩ nào dùng (kể cả opera lẫn đại chúng)
https://www.youtube.com/watch?v=PjMnh4bMWfM&list=RDPjMnh4bMWfM#t=484

1:27:04 - Chuyển từ head sang chest quãng trầm trong cùng một melisma
https://www.youtube.com/watch?v=PjMnh4bMWfM&list=RDPjMnh4bMWfM#t=484

1:42 - Chuyển head kèm melisma trên quãng âm thấp để làm mềm giai điệu
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

5:44 - Chuyển head với tốc độ nhanh từ một chuỗi scat singing giọng ngực rất nhanh trước đó (một làn hơi cực khỏe)
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

6:39
6:46 - Chuyển head nhanh kèm vibrato diminuendo kéo dài
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

Quan trọng hơn cả là vấn đề connect giữa chest mix và head voice. Hầu hết các ca sĩ da màu khi cover I will always love you lên đến đoạn "love you.. ú ú à a a..." đều phải dùng mix voice, vì đoạn đó đang căng, dễ bị tắc head, không thể chuyển head voice kịp, hay nói cách khác là không có đủ hơi để chuyển sang head voice. Trong khi Whitney hát chỗ đó còn đủ hơi và linh hoạt tới mức, đang căng như vậy mà vẫn luyến sang head voice, thậm chí âm lượng vẫn không hề nhỏ đi.

2:32
https://www.youtube.com/watch?v=Ka0sgVcUTrM


2:05
https://www.youtube.com/watch?v=YN2Mp6gu8N0

Hay như trong ca khúc này, Whitney có sự chuyển giọng liên tục từ head sang fal, rồi sang mix một cách tài tình trong cùng một legato, rất vững vàng.

0:14, 0:35
https://www.youtube.com/watch?v=YGyBZhwT_MI

Whitney còn có thể chuyển sang head khi đang đóng tiếng căng tràn rồi lại chuyển về đóng tiếng rất dài trong cùng một làn hơi.

4:43
https://www.youtube.com/watch?v=k0Ix86lTSWw

Ở những kĩ thuật chuyển giọng khó, Whitney có một cách hát, cách nhả chữ vô cùng tinh tế mà không phải ai cũng sáng tạo được. Đó là việc chuyển đột ngột sang head voice khi đang hát căng hoàn toàn ở chest/mix voice và nhả head voice ngẫu hứng trong mọi âm tiết (nếu cảm thấy cần thiết), nhưng không phải tiếp nối sự kịch tính mà để làm mềm câu hát, trang trí cho giai điệu trở nên đẹp hơn. Cô có thể nhả head với tốc độ chuyển giọng, giữ note rất nhanh, tới mức khán giả không kịp nhận ra sự chuyển giọng này, chỉ cảm nhận được rằng câu hát rất mềm mại, dù là một bài uptempo nhanh. Đây cũng là cách hát đặc trưng của Whitney, giúp cô tạo cảm xúc và độ mượt mà tối đa, tránh sự phô diễn vô cảm hoặc để giọng hát quá đanh dày làm chói tai khán giả như nhiều ca sĩ da màu khác. Cách hát này phải nói là rất khó, vì không phải ca sĩ nào cũng có thể xuống head voice thấp và có khả năng kiểm soát hơi thở bậc thầy, năng khiếu cảm nhạc bậc cao để nhả head voice mềm mại, nhẹ nhàng, điêu luyện trên tốc độ nhanh và đột ngột đến như thế mà không hề bị vấp, lỗi, lệch tone, lệch nhạc. Quan trọng hơn cả, không phải ai cũng đủ tinh tế để sáng tạo ra lối hát này. Nhiều ca sĩ cậy có giọng khỏe, tưởng rằng có thể cover nhạc Whitney một cách dễ dàng, nhưng kì thực họ chỉ đang gào hoặc nhại lại nhạc Whitney, rất ít người để ý được tới những chi tiết "hùm núp danh thỏ" này, để đến khi nhận ra thì mới "vỡ mặt".

+ Trên tempo nhanh

3:01 - Chuyển sang head trong khi đang giữ những đoạn hát bằng giọng ngực, đòi hỏi một hơi thở rất khỏe
3:52 - Chuyển sang head khi đang căng chest để làm mềm câu hát
3:56 - Vẫn là cách nhả head đột ngột và nhẹ nhàng để làm mềm câu hát
0:31, 0;35, 0:39, 0:55, 1:19, 1:25, 1:34, 1;39, 1:44, 2:00, 2;23, 2:30, 2:44, 3:16, 3:43 - Vẫn là cách nhả head đột ngột và rất nhẹ, rất nhanh để biến tấu giai điệu trở nên mượt mà hơn
https://www.youtube.com/watch?v=GPejzCKziUU

0:19, 0:27, 0:43, 1:06, 1:10, 1:13, 1:21, 1:31, 1:46, 2:10, 2:14, 2:26, 3:21, 3:37, 3:42, 3:46 - nhả head voice làm mềm câu hát
https://www.youtube.com/watch?v=vR0kWX9zCR4

0:22, 0:30, 0:46, 1:13, 1:29, 1:34, 1:50, 2:17, 2:23, 2:28, 2:34, 2:54, 3:20, 3:30, 3:46, 3:49 - Chuyển head voice rất ngắn và nhanh trong từng âm tiết
https://www.youtube.com/watch?v=W029a0tSyls

+ Trên tempo chậm

0:42, 0:50, 1:34, 1:57, 2:07, 2:20, 2:35, 2:40, 2:54, 3:00, 3:15, 3:26, 3:30, 3:35
https://www.youtube.com/watch?v=5e9aqfi2aro

0:21, 0:28, 0:47, 1:26, 2:32, 3:12
https://www.youtube.com/watch?v=2dZISK3xcAc

0:15, 0:23, 0:45, 1:32, 2:00, 2:50
https://www.youtube.com/watch?v=ps7d4OiwfpU

0:16, 0:23, 0:43, 1:24, 2:33
https://www.youtube.com/watch?v=cyysDOc4TI4

2:54
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE


Với kĩ năng thượng thừa, Whitney có thể chơi đùa, sáng tạo với các từ, cụm từ, âm tiết, quãng hát, giai điệu, hòa âm để dùng nó như một phương tiện truyền tải cảm xúc. Đây là cả một nghệ thuật. Cảm nhận những cung bậc cảm xúc cô tạo ra trên các giai điệu khó ở head voice ở các ví dụ sau.

1:03 tới 1:30 - Dùng những đoạn phân nhịp mang tính melisma để làm sáng head voice một cách tự nhiên
https://www.youtube.com/watch?v=h9rCobRl-ng

5:48 tới 6:58 - Kĩ thuật ngẫu hứng melisma
https://www.youtube.com/watch?v=Zb1FT03dBPg

5:00 tới 5:25 - Kĩ thuật ngẫu hứng melisma
https://www.youtube.com/watch?v=lkwfSyNbBHU

5:32 -  Kĩ thuật ngẫu hứng melisma
https://www.youtube.com/watch?v=IVDd3efzTPQ

- Whitney cũng có thể sử dụng được một số kĩ thuật hát hoa mỹ để trang trí cho giai điệu của mình. Đặc biệt hơn cả, các kĩ thuật hoa mỹ này được cô sáng tạo hoàn toàn trong các màn trình diễn live, trên những đoạn cadenza độc đáo, mà bản nhạc gốc không có.

3:07 - Slow trillo (Rung láy chậm)
https://www.youtube.com/watch?v=m315tMMOMt0

6:00 - Slow trillo (Rung láy chậm)
https://www.youtube.com/watch?v=lDcKu8L95tg

3:42 - Staccato
https://www.youtube.com/watch?v=XSzmOKg1WIY

6:33 - Slow staccato (staccato chậm)
https://www.youtube.com/watch?v=CzMJw77ueJU

4:32 - Groppo Posato (Slow trills - rung láy chậm)
https://www.youtube.com/watch?v=fSBNi8PCb7Q

0:48 - Mezzo trillo (Fast trills - rung láy nhanh)
https://www.youtube.com/watch?v=dQ5rJE-KWJg

3:51 - chạy note melisma từ thấp lên cao với tốc độ nhanh
https://www.youtube.com/watch?v=hnX8owFmphs

0:44 - chạy note từ thấp lên cao
https://www.youtube.com/watch?v=XaCTmcLF8Bs

4:31 - chạy note từ thấp lên cao
https://www.youtube.com/watch?v=5ojFl3VDkNE

3:14 - melisma kèm vibrato (đây là một trong những biệt tài của Whitney khi dùng melisma, cô có thể ngân rung trên melisma cả ở chest và head)
https://www.youtube.com/watch?v=hnX8owFmphs

3:43 - Staccatissimo (thời gian ngắn nhất khi chạy note trên staccato, rất nảy, cuốn note và tách đều nhau)
https://www.youtube.com/watch?v=s8lNHRSwihs&list=PLC06C3EBBAFF32A7D&index=6

5:54 - Run staccato vibrato
https://www.youtube.com/watch?v=KUh0Z0ilTjs

5:03 - Staccato + Pianissimo
https://www.youtube.com/watch?v=CzMJw77ueJU

45:31 - Vuốt note nhanh kèm vocal runs
https://www.youtube.com/watch?v=PjMnh4bMWfM&list=RDPjMnh4bMWfM#t=484

1:01:37 - Diminuendo (nhỏ và nhẹ xuống)
https://www.youtube.com/watch?v=PjMnh4bMWfM&list=RDPjMnh4bMWfM#t=484


Những dẫn chứng trên cũng đồng thời chứng minh nhận định ban đầu về tính màu sắc trong head voice của Whitney. Rõ ràng, đây là những kĩ thuật virtuoso linh hoạt của loại giọng màu sắc mà không phải giọng trữ tình, spinto nào cũng làm được, nhưng Whitney đã thực hiện và sáng tạo nó một cách tương đối tốt. Đáng ngạc nhiên hơn, những kĩ thuật màu sắc này hoàn toàn do Whitney tự trải nghiệm và sáng tạo, không qua bất cứ một trường lớp nào. Qua đó, ta thấy được sức học hỏi và tự rèn luyện của cô bền bỉ, thiên phú đến nhường nào. Bởi vậy mới có quan điểm cho rằng, nếu Whitney được rèn luyện bài bản về opera, cô sẽ trở thành một nữ cao màu sắc thực thụ, chứ không phải một trữ tình kịch tính như thường thấy.

Thậm chí, vào năm 1994, khi đã chuyển sang giọng mezzo với màu giọng tối hẳn đi, nhưng cách biến tấu head voice màu sắc đúng chất coloratura mezzo vẫn còn rất đậm nét.
https://www.youtube.com/watch?v=2mSz5I5anHk&list=PL217D9060A1AA5CC7&index=3

Ngoài ra, Whitney còn có thể nhả head voice vào từng chữ rất rõ ràng và nhẹ nhàng, thoải mái, mượt mà, ngọt ngào. Đây là điều hiếm thấy mà không phải ca sĩ đại chúng nào cũng làm được.

3:45 tới 4:10
https://www.youtube.com/watch?v=5e9aqfi2aro

Với thanh quản và sức khỏe lên xuống thất thường của mình, Whitney nhiều khi không đủ sức để lên một note cao bằng giọng thật. Vì vậy, cô đã nhanh trí sử dụng head voice bù đắp vào đó. Nhưng sự thông minh, khéo léo và khả năng cảm nhạc thiên phú của Whitney nằm ở chỗ, dù đoạn head voice đó chỉ là để chữa cháy, nhưng vẫn rất tinh tế, hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.

4:59 - Đây chỉ là đoạn head voice candenza thêm vào, nhưng cách cô hold và chạy note, nhấn nhá melisma theo nhịp nhạc tài tình đến mức người nghe cảm thấy nó thật hoàn hảo.
https://www.youtube.com/watch?v=c84ogrNEds0

5:08 tới 5:26
https://www.youtube.com/watch?v=8cFFjVLkmRg

3:22
https://www.youtube.com/watch?v=t3htnObbDCs

Một điều đặc biệt nữa trong cách hát của Whitney, khiến các ca sĩ khác khó lòng cover lại thành công các ca khúc của cô, là dùng head voice rất mượt mà, tinh tế khi nhả chữ. Làm được điều này không khó ở kĩ thuật, mà khó ở tư duy và thẩm mỹ. Ai cũng cho rằng hát nhạc Whitney là phải mở hết cổ họng để khoe giọng, mà ít ai nhận thấy, cái hay, cái đẹp đến từ chính những điều nhỏ nhất. Chẳng hạn, trong các màn trình diễn ca khúc I will always love you, Whitney thường đẩy head voice vào chữ "If" đầu tiên, nhẹ nhàng nhưng rất dày, nên ấm áp mà vẫn giữ được sự ngọt ngào.

0:02 - Kéo dài kèm vibrato
https://www.youtube.com/watch?v=Ka0sgVcUTrM

1:31
http://www.dailymotion.com/video/xa77iw_whitney-houston-live-i-will-always_music

0:01
https://www.youtube.com/watch?v=V3mVaMhoJCA

1:08
https://www.youtube.com/watch?v=r46esvSufSk

Hay trong ca khúc I have nothing, Whitney cũng thường nhả head ngay chữ "Share" đầu tiên để khởi đầu giai điệu thật mềm mại.

1:08
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

3. Sáng tạo và cảm xúc


Về sự sáng tạo của Whitney, không cần phải lạm bàn thêm nữa, vì ai cũng biết cô là một bậc thầy về sáng tạo trong ca hát. Một trăm lần hát live của Whitney là một trăm phiên bản khác nhau, không lần nào giống lần nào. Vì vậy, head voice cũng được cô sáng tạo đến vô biên theo hàng ngàn cách khác nhau. Chỉ cần nghe tất cả các bản thu âm của Whitney, rồi đối chiếu với các bản trình diễn live của nó, bạn sẽ thấy sự sáng tạo của cô lớn đến nhường nào. Điển hình như hai ca khúc Saving all my love for you và You give good love, hãy nghe bản thu âm đầu tiên, sau đó tìm nghe các màn trình diễn live ở tất cả các năm từ 1986 đến 1999, bạn sẽ phải choáng ngợp trước khả năng sáng tạo head voice của Whitney.

Mỗi khi nghe Whitney hát live, không ai có thể đoán trước được cô sẽ biến tấu, chêm xen head voice như thế nào, vì sự sáng tạo của cô không thuộc về quy chuẩn, nó nằm ở ngẫu hứng và cảm xúc. Cách cô biến tấu candenza, thêm thắt các đoạn melisma, chạy note, staccato, vibrato... hoa mỹ hoàn toàn là ngẫu hứng, tự do, thoải mái, không hề gượng ép, nhưng lại vô cũng kĩ thuật, chính xác, công phu và điêu luyện. Ở đây, tôi nhấn mạnh vào chữ TỰ DO. Đó là cái thần thái và tâm thế sáng tạo của một người tự tin khi làm chủ hoàn toàn giọng hát của mình. Tại sao người ta vẫn luôn say mê và đắm chìm trong âm nhạc của Whitney, trong khi có không ít ca sĩ kĩ thuật điêu luyện hơn cô? Vì chỉ có cô mới đủ sáng tạo và cá tính để sử dụng kĩ thuật một cách tự do, phóng túng đến thế. Nó đem lại cho người nghe một cảm giác kích thích, hào hứng, thoải mái, sảng khoái, chứ không bị bó buộc, gượng ép theo quy chuẩn. Những kĩ thuật Whitney sử dụng ở head voice không phải ai cũng biết và nghe quen, đó đều là những kĩ thuật mô phỏng opera bel canto. Nhưng trái với opera bel canto vốn đầy tính học thuật, kén người nghe, đại đa số khán giả lại rất thích nghe Whitney phiêu head voice như vậy, họ chỉ cần quan tâm đến cảm xúc chứ không phải thanh nhạc. Đơn giản vì cô đã biết cách bình dân hóa kĩ thuật thanh nhạc, hòa nó vào quần chúng để hướng đến đối tượng khán giả đại chúng. Đây mới chính là cái tài của Whitney, nằm ở tư duy và thẩm mĩ âm nhạc, ở cái tâm thế tự do, phóng túng, ở tâm hồn ca hát chân thật, là cái mà bạn có học cả đời cũng không làm được. Hát nhạc của Whitney khó không phải ở kĩ thuật, mà ở tâm hồn. Đừng nghĩ bạn sẽ có được tâm hồn như Whitney từng có để hát lại thành công các ca khúc của cô.

Tương tự như vậy, cũng không cần phải bàn nhiều về cảm xúc Whitney tạo ra trên head voice, vì cô vốn đã là một bậc thầy trong việc tạo ra những cơn bão cảm xúc trên sân khấu rồi. Dù có phô diễn tới đâu chăng nữa, head voice của Whitney vẫn tràn ngập cảm xúc và kết nối tài tình với người nghe.

Whitney có thể bùng cháy ở những head voice kịch tính...

4:37
https://www.youtube.com/watch?v=0eGIo_SCrN8

... có thể lên đồng trên sân khấu...

4:18
https://www.youtube.com/watch?v=244eNnZmHp8

5:47
https://www.youtube.com/watch?v=o8CGzhb7BJE

...có thể ngẫu hứng chơi đùa...

6:25
https://www.youtube.com/watch?v=CzMJw77ueJU

... và nhẹ nhàng tâm tình, nhắn nhủ yêu thương trực tiếp với khán giả bằng cảm xúc thật lòng, không giả dối, không màu mè.

7:22 tới 8:06
http://www.dailymotion.com/video/xa77iw_whitney-houston-live-i-will-always_music

Hay ở màn trình diễn này, Whitney sử dụng rất nhiều head voice với đầy đủ staccato, melisma, pianissimo, fortissimo... nhưng hoàn toàn không đem lại cảm giác phô diễn, lạm dụng. Tất cả mọi thứ đều được dùng vừa đủ, khéo léo, đem lại tính trữ tình, mềm mại, ngọt ngào và khả năng thư giãn cao, khác hoàn toàn với các ca sĩ trẻ ngày nay. Sự tinh tế và tư duy của người ca sĩ nằm ở những chỗ như vậy.

https://www.youtube.com/watch?v=bflUJjH-puo

Vẫn cần nhắc lại một câu quen thuộc, ở Whitney, mọi sự phô diễn kĩ thuật đều đong đầy cảm xúc và chan chứa một tâm hồn trong đó, chứ không phải cỗ máy hát di động.


Cũng chính ở head voice, Whitney đã tiên phong và mở màn cho cả một trào lưu âm nhạc mới. Ngay từ những năm debut, cô đã dùng melisma một cách đầy ngẫu hứng, tự do trên head voice ở các màn hát live với số lượng lớn. Chỉ tiếc rằng, những sáng tạo melisma đó không được Whitney sử dụng trong các bản thu âm chính thức, nên người ta không đánh giá Whitney với vai trò tiên phong melisma trong pop/r&b những năm 80s. Nhưng theo tôi, việc đi tour và hát trên sóng truyền hình với tần số dày đặc như vậy, Whitney hoàn toàn có thể tạo ra nguồn cảm hứng về việc sử dụng melisma ngay từ những năm 80s đối với thế hệ ca sĩ kế cận. Và đến năm 1992, với sự ra đời của album đình đám The Bodyguard cùng tổ hợp các ca khúc I will always love you, Run to you, I'm every woman, cùng với album The preacher's wife (1996), Whitney đã được đánh giá là người tiên phong cho việc sử dụng melisma vào pop/r&b (trên head voice) cùng với Mariah Carey (trên belting). Về tầm ảnh hưởng của hai diva này, ca sĩ Beyonce đã thẳng thắn chia sẻ: "Không một nghệ sĩ nữ nào trong nền âm nhạc đương đại có thể nói rằng họ không được ảnh hưởng từ Mariah, Whitney và Janet - những người phụ nữ quyền lực đã chỉ đường dẫn lối cho mọi thế hệ nghệ sỹ trong làng giải trí ngày nay. Bất kể ai phủ nhận điều đó đều là dối trá...".


Kết



Whitney không phải ca sĩ có kĩ thuật head voice tinh diệu và chuẩn mực nhất, nhưng bằng âm sắc giọng đẹp hiếm có cùng sự sáng tạo, tư duy sâu sắc của mình, cô đã dùng head voice để góp phần mở ra một thời kì âm nhạc mới, đi tiên phong mở đường cho nhiều thế hệ ca sĩ sau này. Tầm ảnh hưởng đến khán giả, các thế hệ đàn em và cống hiến to lớn với nền âm nhạc thế giới của Whitney trên các kĩ năng head voice cần được ghi nhận và ngợi ca. Cô xứng đáng là Queen of head voice của nền âm nhạc đại chúng đương thời.



_Đức Long_
Hải Phòng ngày 11 tháng 2 năm 2015






Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Cảm giác (Truyện ngắn)

          


         Trời trắng xóa, không gian trắng xóa. Không một cọng sương. Chỉ tuyền ánh sáng trắng xóa trùm khắp mọi cảnh vật, phủ kín từng dãy nhà cao hút, xuống tận những gốc bàng héo khô, chết lặng bên đường. Đó là chút đọng lại trong kí ức tôi mỗi khi nhớ về em. Những mảng kí ức mơ hồ quá, không có đầu có cuối để chắp vá cho liền mạch, nên đành thả cho trôi theo cảm giác.
          Đông lạnh nhưng không tuyết, độc những hơi thở phả vào không khí từng làn khói run rẩy, cuộn tròn ôm ấp lấy nhau. Cái rét mùa đông khiến người ta cảm tự mình nhỏ bé và âu sầu hơn. Khi khí lạnh xâm lấn dòng máu cơ thể, họ thèm được yêu, được bao bọc, được nắm giữ một ai đó để sưởi ấm cho cảm giác của mình. Đông cũng là cảm giác lớn nhất của tôi về em, cái cảm giác lạnh tái đến tận xương mỗi khi tôi chạm vào cơ thể, hay cố xâm nhập suy nghĩ em.
          Tôi bước theo em bên con kênh dài xa tắp, không điểm dừng. Nói là kênh, nhưng thực ra, nó chỉ là con cống lớn chứa đầy nước thải đen ngòm chạy ngoằn ngoèo quanh thành phố, đi qua tấm lưng bạc màu của những dãy nhà cao tầng vô hồn. Không bóng người, không phố phường, tôi và em vẫn hay dạo quanh nơi đây, để cảm nhận sự tĩnh lặng và buồn bã phía đằng sau một thành phố, đằng sau những tòa nhà xô bồ, neo đơn bóng người. Cả tôi với em đều thấy nơi chết lặng này đẹp một cách lạ lùng. Cái đẹp này chỉ có thể cảm giác được, chứ không thể diễn tả thành lời. Thế giới ngôn từ đã chết rồi, không còn khả năng diễn tả mọi rung chấn tế vi trong cảm giác của con người nữa.
          Điều làm tôi thích nhất ở nơi đây chính là cảm giác lâng lâng khi được đứng phía sau một tòa nhà cao tầng cũ kĩ, ngắm nhìn những vết gạch tróc vẩy, những dấu dầu mỡ loang lổ chảy qua lỗ thông khói nhà bếp, những mắc phơi quần áo ướt sũng, những ô cửa sổ li ti đầy bụi bẩn, những mảng tường bạc màu kín bưng, và cả những cánh cửa hậu đóng im thin thít, nhưng ôm ấp cả một sự sống sau nó. Bạc nhưng không chết, lặng mà vẫn sống. Thời gian lúc nào cũng cuốn nhanh một cách lặng lẽ khiến tôi chỉ kịp biết mình đang chết dần theo năm tháng. Chỉ ở nơi đây, tôi mới bắt được nó vào con mắt, để ngắm nghía cho thỏa cái màu nhờn nhợt, bàng bạc của nó đang đan vụt qua từng kẽ ngón tay mình. Tâm hồn tôi khi ấy như được vuốt ve bởi những mảng kí ức mơ hồ đã từng có ở một quê hương xa xôi nào đó.
Ai biết không gian tới nơi đâu?
Ai biết thời gian về nơi nào?
Ai không sợ thời gian?
Ai không sợ không gian?
Ai thoát khỏi cô đơn?
Ai thoát khỏi lạnh lẽo?
Ai thoát khỏi tàn héo?
Ai biết ai đi tiếp cùng ai?
          Em đi trước, tôi lặng lẽ bước theo sau. Suốt mấy tiếng liền, chúng tôi không nói với nhau câu nào, chỉ nghe đi nghe lại ca khúc Feelings qua tiếng hát Nina Simone, lặng ngắm phía sau thành phố về đông để cảm nhận cái lạnh bốc lên từ hơi đất, dội qua cảnh vật, đập lại vào thân thể nhỏ bé của hai con người. Giờ khắc hiếm hoi này, hai mảnh hồn chúng tôi được giao cảm mạnh nhất với nhau. Nếu tôi là Trịnh, còn em là Khánh Ly, hẳn chúng tôi sẽ có nhiều ca khúc bất hủ cho đời. Đây là nơi duy nhất thời gian không tồn tại với chúng tôi.
          Đột nhiên, em quay giật lại, sắc mặt thảng thốt.
          - Ôm mình đi!
          - Giữa đường thế này sao?
          - Phải! Nhanh lên! Mình không thể chịu hơn được nữa. Lạnh lắm! Từng mạch máu ấy, mình đang thấy nó đông lại và nứt toác ra. Đau lắm! Hãy ôm chặt lấy mình ngay đi!
          Không đợi tôi, em vội đan hai tay vòng sâu vào lớp áo khoác dày, ôm chặt lấy tôi như muốn nhập hai cơ thể làm một. Đôi khi em cảm thấy sợ một thứ gì đó, sợ đến tê liệt cơ thể, và em sẽ rơi vào trạng thái hoảng loạn nếu phải một mình chống chọi nó. Vì vậy, tôi luôn phải ở bên em để xoa dịu những cơn sợ hãi khủng khiếp này. Tôi cố áp sát mặt bên má em để sưởi ấm. Nhưng, nó cứ lạnh tái như băng tuyết vùng Hokkaido, khiến chính tôi cũng cảm thấy những mạch máu của mình đang đóng băng theo. Chúng tôi đứng nguyên tư thế đó suốt hàng giờ đồng hồ, cho bụi trời đóng rêu thân thể. Tôi cứ nghĩ, nếu có bị hóa đá nơi đây, thì dễ đến vài năm sau cũng chẳng ai biết đến sự tồn tại của hai đứa tôi, ngoài gió và khí lạnh là mãi mãi.
          Gục đầu vào ngực tôi, em khóc rưng rức. Tôi không ngạc nhiên lắm, em vẫn thường khóc một cách bất ngờ như thế, chẳng vì lí do gì. Đơn giản vì em thích khóc, như đất cạn thích mưa. Khóc là cách để em tự sưởi ấm cơ thể của chính mình, đả thông các mạch nguồn, và cũng giúp tôi biết rằng em vẫn còn đang sống. Được lúc lâu, em thôi khóc và thì thầm những câu mơ hồ bên ngực tôi. Dù không nghe rõ em nói gì, nhưng tôi vẫn cảm nhận được luồng sóng âm yếu ớt chạy qua da thịt mình.
          - Vĩnh hằng không tồn tại. Mình không thể ở bên cậu mãi mãi, con chim nhỏ cũng có lúc phải bay đi, như ca khúc Norwegian wood ấy. Hãy yêu thêm nhiều người khác để biết rằng cậu còn sống! Hãy quên mình đi!

***

          Em ở đối diện nhà tôi, nơi phía cuối con ngõ dài xác hoa giấy. Tuy gần nhau, nhưng suốt mười mấy năm trời, em và tôi chưa từng giao tiếp với nhau. Em đi đâu về cũng chỉ đóng kín cửa, chẳng hề bước chân ra ngoài. Gia đình em ít khi giao lưu với hàng xóm, chẳng ai biết họ làm gì, từ đâu tới. Mỗi khi cánh cửa gỗ nứt nẻ nặng trịch ấy đóng vào, căn nhà lại trở nên yên ắng đến lạ lùng, không một tiếng động lọt ra.
          Tôi quen em vào một chiều đầu hạ. Khi nắng vàng chợt ửng, em đột nhiên gõ cửa nhà tôi. Lần đầu tiên tôi được đứng gần em đến thế, cảm giác mặc lạ mà lại gần gũi như đã quen từ lâu rồi. Làn da em trắng muốt nhưng xanh xao, dáng người nhỏ bé, gầy gộc và xiêu vẹo. Mái tóc em dày và đen nhánh, thơm thoảng hương bằng lăng dịu mát, nhưng có chút gì đó khô cằn. Trên cơ thể yếu ớt và tiều tụy của em, chỉ duy nhất đôi mắt là lúc nào cũng mở to và khao khát. Em đánh thức tôi bằng một cách thật lạ thường.
          - Làm chuyện đó với mình đi!
          - Tại sao?
          - Mình đang cần tìm lại cảm giác đánh mất từ lúc nhập đời. Coi như cậu đang giúp mình. Hãy giúp mình làm chuyện đó đi!
          Cứ như vậy, tôi trở thành người tìm lại cảm giác cho em qua những cuộc kết nhụy. Có khi chưa hiểu em, tôi băn khoăn hỏi em liệu có bao giờ thấy xấu hổ về một tình yêu đến sau tình dục hay không, em đã gắt lên với tôi:
          - Cậu có biết, có hàng vạn tội ác đang diễn ra vì tình yêu không? Nó còn nhiều gấp trăm lần những tội ác nảy sinh từ tình dục. Vậy thì tại sao chúng ta phải đâm đầu vào ca ngợi tình yêu, gán cho nó đủ các luật lệ, còn tình dục thì bị phỉ báng? Mình chỉ coi tình dục như cuộc giao tiếp giữa hai con người mà thôi, phải có giao tiếp mới có tình yêu.
          Em coi tình dục là cuộc giao tiếp, nên em chẳng giao tiếp với ai ngoài tôi. Em khác thường nên em không chịu cởi mở với đời, và đời cũng chẳng thể hiểu nổi em. Em không có bạn, không quen biết ai, vì mọi người không ai giống em, không ai giao tiếp được với em. Chỉ có tôi và em, hai kẻ trái đời, nên tình yêu cũng khởi nguồn một cách ngược dòng như thế.
          Sự tồn tại của em không có ý nghĩa gì trong cuộc đời này, và đời cũng không có ý nghĩa với em, nên em chỉ sống khi còn có tôi ở bên, tìm cho em những cảm giác rằng em đang sống, dù chẳng biết em có thực sự đang sống hay không. Tôi hiểu em, hiểu cuộc sống của hai đứa nên mặc cho đời cứ trôi, thời gian tới đâu thì tới, không cần phải tác động vào bất cứ điều gì hết.

***

          Thu vàng rơi ngập những xác gạch vỡ nát trên con vỉa hè gồ ghề, oặt ẹo, bám đầy bụi bặm bên ven kiếp đường đi. Tôi và em bước đi trên thảm sóng lá khô dập dìu theo từng vết người qua, chân không chạm nền. Gió bàng bạc thi thoảng thổi những chiếc lá vàng lăn lóc, trôi dạt nhanh chậm về tám phía, như những lữ khách phiêu lãng đang loay hoay tìm vết đi đời mình trong mịt mù mây giăng, để rồi vỡ vụn dưới một bánh xe nghiệt ngã nào đó trên con đường dài đông đúc. Tôi thích cảm giác này, nhè nhẹ và mơ hồ, tựa như ảo ảnh nâng mình thoát khỏi mặt đất trần trụi, dẫu cho chính tôi cũng đang giẫm nát một mớ tàn úa khô khốc để bước tiếp cho đặng. Gió thổi mát làm dịu lòng người, ai cũng thích, nhưng chẳng mấy ai nhận ra thời gian đang trôi nương vào đó để mang cái chết đến gần họ hơn.
          - Cậu sợ thứ gì nhất trên đời? - Đột nhiên, em ngẩng qua hỏi tôi.
          - Có lẽ là con người... - Tôi vừa nói vừa chầm chậm suy tư - Chẳng giống loài nào sở hữu những tội ác nhơ bẩn như con người.
          - Còn mình sợ nhất thời gian và không gian.
          - Vì sao?
          - Không gian là thứ duy nhất cầm tù mình, khiến mình mệt mỏi và thất vọng. Mình bất lực và thất bại trước không gian, nó xé toạc mọi mối liên hệ mình muốn có, chặt đứt mọi tầm nhìn, giao chạm của mình, biến mình thành con ngốc đơn độc khi không thể đến gần những thứ mình muốn, không thể đi hết những con đường cần phải đi. Còn thời gian ư? Thời gian là thứ mình căm thù nhất. Mình luôn sợ hãi tột cùng mỗi khi đối diện với nó, đối diện với cảm giác rằng nó đang giết mình trong từng phút lớn lên, hủy hoại từng tế bào trong mình. Rồi một ngày nào đó, nó sẽ giết chết mọi thứ mình yêu quý, thiêu rụi mọi kí ức và nguồn sống mình từng có. Không gian và thời gian là thế đấy! Chúng lấy đi của mình mọi thứ mình muốn, buộc mình phải rời xa những thứ mình đang có, và nhấn chìm mình trong bế tắc của cô đơn và cạn kiệt.
          - Thôi nào! Đừng bi quan như vậy! Cậu không cô đơn. Mình vẫn bên cậu mà! - Tôi khẽ chạm tay vào từng sợi tóc da vàng nhỏ li ti trên mái đầu em để an ủi.
          - Cậu có biết thời gian sẽ đi về đâu không? - Em vẫn hỏi, đôi mắt thả lơ vào làn xe vun vút bên đường.
          - Ai biết được điều đó?
          Em khẽ cúi xuống, nhẹ đưa tay măng nhặt chiếc lá héo khô, thổi lớp bụi bay vào gió, vừa mân mê vừa thì thầm:
          - Đúng vậy! Cậu và mình đều không biết. Chẳng ai biết được nơi thời gian sẽ tới. Vậy nên mình mới sợ. Ai dám chắc ngày mai cậu có còn bên mình? Thậm chí, trong một giây phút nữa, ai dám chắc mình có còn bên nhau? Mình và cậu vẫn đang chết dần mà cứ ngỡ là đang sống đấy chứ. Cuộc đời này chỉ là một chặng đua xem ai cán đích tới cái chết sớm hơn mà thôi.
          - Mình nhớ là cách đây vài phút cậu không suy nghĩ nhiều đến thế? Có chuyện gì vậy?
          - Đang giờ tan tầm, rất nhiều học sinh đi học về trên con đường này, nên mình chợt thấy buồn thôi.
- Trời hơi lạnh. Mình mời cậu tách cà phê nhé!
          Nói rồi tôi dắt em tới một quán cà phê nơi góc đường. Quán cà phê này rõ ràng mới được mở, nhiều hôm trước tôi không hề thấy nó. Nhưng trông nó rất cũ kĩ, như đã ở đây cả nửa thế kỉ rồi. Toàn bộ quán cà phê được làm bằng gỗ dổi đánh nâu, màu bạc đi như phải chịu nhiều cái tát của mưa gió. Những ô cửa sổ vuông vắn trổ vừa đủ để hắt ánh sáng vàng ngọt trải lê thê lên vỉa hè. Cửa kính mờ hơi nước và bám đầy tro trắng. Mạng nhện lơ thơ vắt trên từng khe gỗ, vương lấm tấm lên cả tấm biển hiệu cũng bằng gỗ khắc đậm dòng chữ Singing Blues. Có vẻ đã rất lâu rồi quán cà phê này không được lau dọn, hoặc chăng đây là chủ ý của chủ quán khi muốn tạo nên gam màu riêng biệt nào đó giữa thành phố nhạt nhòa này. Cảm giác khi ngắm nhìn quán cà phê này hắt bóng sáng lên vỉa hè tầm choạng tối cũng giống như được chiêm ngưỡng một bức tranh của Leonid Afremov vậy.
          - Quán cà phê này nhìn quen quá! - Em thốt lên đầy ngạc nhiên khi vừa bước vào quán. Dường như em và tôi đều có chung một cảm giác.
          - Có lẽ cô gái đã trông thấy nó trong tương lai! -  Có tiếng nói ồm ồm như giọng đàn ông vang lên.
          Một người phụ nữ trung niên tiến lại gần chúng tôi và mỉm cười thân thiện, để lộ hàm răng trắng tăm tắp trên khuôn mặt tung tóe những nếp nhăn đen sạm. Người phụ nữ này trông khá giống một bà đồng cốt, hai bàn tay bà đeo dày đặc các loại nhẫn, cái này chen chúc vào cái kia, còn cánh tay phải thì chồng chéo vòng tay đủ màu. Bà có mái tóc xoăn dày và đen mượt, được cuốn cầu kì vào một chiếc headwrap in hoa văn lập thể, ẩn phía dưới là đôi hoa tai bản to hình hai chữ G ngược lồng vào nhau chạy dài xuống bờ vai trần chắc chắn. Có lẽ bà thuộc tuýt người dùng phục trang để thác gửi tâm hồn.
          - Sao lại thế ạ?
          Người phụ nữ cười khẩy một tiếng, rít một hơi thuốc đầy khoan khoái, nhả vào ánh đèn vàng những mảng khói trắng mơ hồ, rồi mới từ từ cất lên những âm thanh khàn đặc.
          - Ai mà biết được tương lai hay quá khứ có trước. Có khi chúng ta đến từ tương lai và đang sống xuôi lại quá khứ mà không biết đấy. Biết đâu chiều ngược mới là chiều xuôi còn chiều xuôi mới là chiều ngược.
          - Bác nói hay quá! - Em reo lên thích thú, đôi mắt đầy phấn khích. Đã lâu lắm rồi tôi mới được thấy lại niềm vui và nguồn sống nhen lên trong đôi mắt lạnh lẽo của em.
          - Hiếm khi lắm mới có người khen tôi đấy! Bình thường người ta hay bảo tôi là con mụ điên chuyên nói nhảm. - Người phụ nữ bật cười, rít tiếp một hơi thuốc đầy - Tôi là chủ quán cà phê này. Cô cậu uống gì? Hôm nay tôi sẽ đích thân phục vụ.
          - Bác cho bọn cháu hai tách cà phê nóng không đường ạ!
          Trời bỗng nhiên đổ mưa, tuy không to nhưng đủ làm nhòe cửa kính và khoác lên mặt đường một lớp gương bóng phản chiếu ánh đèn xe cộ, trông rất lung linh và huyền ảo. Tôi và em chọn chiếc bàn sát cửa sổ để có thể ngắm đường phố rũ mưa về đêm một cách rõ nhất, giúp chúng tôi được nhấm nháp một cảm giác ngọt lịm và bâng khuâng đầy thích thú. Gần chỗ chúng tôi là một người đàn ông trung tuổi cũng đang nhìn xa xăm vào làn xe chạy vun vút trong ánh mưa đêm. Khuôn mặt ông lạnh tanh nhưng đôi mắt lại hằn lên nhiều cảm xúc khó tả. Ánh mắt ấy khiến tôi bị thu hút nên thi thoảng lại lén nhìn sang quan sát động tĩnh của ông. Thật kì lạ. Trong suốt nửa tiếng chúng tôi ngồi đó, ông không hề nhúc nhích, toàn thân cứng đờ, chỉ có đôi mắt là dấu hiệu duy nhất cho thấy ông còn tồn tại. Cảm thấy lo cho sức khỏe của ông, tôi đứng dậy, định tới hỏi thăm thì bị bà chủ quán kéo lại. Bà thì thầm vào tai tôi:
          - Đừng làm phiền ông ấy!
          - Xin lỗi bác! Tại cháu thấy lo cho sức khỏe của bác ấy.
          - Không sao cả! Ngày nào ông ấy cũng đến đây và ngồi từ chiều đến đêm, cứ bất động như vậy đấy. Vợ ông ấy mới mất tháng trước. Đó là một cái chết bất ngờ. Buổi tối họ vẫn đi dạo với nhau, bà ấy vẫn khỏe mạnh. Vậy mà đến đêm đã qua đời. Chắc do bị cảm gió. Đúng là cuộc đời này không thể biết trước chữ ngờ, mới đây còn bên nhau, chỉ vài phút sau đã xa cách hai thế giới.
          Câu chuyện về người đàn ông bỗng khiến tôi giật mình. Bất giác, tôi nhớ lại những câu nói của em ban nãy. Đúng thật! Chẳng ai biết thời gian tới nơi đâu.
          - Quán mình có cả piano hả bác? - Em hỏi, mắt nhìn về phía chiếc dương cầm nhỏ màu xanh dương nép gần bên cửa.
          - Đó là kỉ vật duy nhất mẹ tôi để lại. Bà từng là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng những năm 60. Sau vụ cướp năm đó, bố mẹ tôi bị giết, chẳng còn lại gì ngoài chiếc đàn dương cầm cũ nát này. Tôi coi nó như chút kỉ vật đọng lại trong dòng thời gian nghiệt ngã này.
          - Nó còn dùng được không ạ?
          - Tất nhiên! Đồ cổ bao giờ cũng bền cô gái ạ! Âm thanh của nó tuy hơi bạc nhưng vẫn còn rất tuyệt. Để tôi chơi thử một bài cho các bạn nghe nhé!
          Từ từ bước tới bên cây dương cầm, hai ngón tay vẫn hững hờ làn khói thuốc, bà lật nhẹ nắp đậy bàn phím lên, ánh đèn soi rõ chút bụi trắng loang vào không khí từng đợt. Phím đàn nằm sấp lăn chầm chậm trên cung trầm hòa lẫn tiếng mưa đêm, chen vào chút sáng vàng mơ hồ như kéo trùng cả không gian vào chiều khắc khoải, khiến ai cũng thấy suy tư mà ngừng lại câu chuyện của đời mình để thả hồn vào âm nhạc. Hòa theo tiếng dạo ban đầu, một giọng hát vang lên. Bà chủ quán có giọng nói trầm ồm, thô ráp và dày đặc thuốc lá như một người đàn ông da màu, nếu bà không hát như bây giờ, sẽ chẳng ai biết tiếng hát của bà ấm áp và truyền cảm đến nhường nào.

Across the purple sky, all the birds are leaving
But how can they know it's time for them to go?
Before the winter fire, I will still be dreaming
I have no thought of time

For who knows where the time goes?
Who knows where the time goes?

          Mưa trôi cùng nhạc, kéo theo những giọt nước mắt của em rơi xuống. Nhưng lần này em không khóc một mình, người đàn ông góa vợ gần đó cũng đang khóc, với đôi mắt hằn đỏ. Ít nhất trong quán này, có hai người đang khóc thành hình hài, và cả những người đang khóc trong lòng nữa.

And I am not alone while my love is near me
I know it will be so until it's time to go
So come the storms of winter and then the birds in spring again
I do not fear the time

For who knows how my love grows?
And who knows where the time goes?

          Mưa vẫn tí tách, đàn vẫn nồng, giọng hát vẫn ấm áp, nhưng em không còn khóc, người đàn ông ấy cũng không, chỉ còn lại tôi đang khóc, nước mắt cứ chảy mà không sao kìm lại được. Lần đầu tiên trong đời tôi khóc vì một bản nhạc, vì một tiếng hát. Chìm trong cơn say nhạc, tôi không hề hay biết tiếng hát đã dứt, cho tới khi bà chủ quán vỗ vai.
          - Cô gái ấy vẫn chưa về sao?
          - Dạ chưa ạ! - Tôi cười mỉm, gạt nhẹ dòng nước mắt.
Sau đêm đầu tiên nghe nhạc ở quán Singing Blues, em đã hoàn toàn biến mất khỏi tôi, không một lời từ biệt hay nhắn gửi. Cứ thế em đi, đi tới không gian nào, thời gian nào tôi cũng chẳng biết.  Dù luôn cảm thấy sự báo trước rằng em sẽ phải ra đi vào một lúc nào đó, nhưng tôi không nghĩ lại nhanh chóng đến vậy. Tôi còn không đủ thời gian để cảm giác được rằng em đã đi. Nhiều năm trôi qua, em vẫn chưa quay lại. Thi thoảng, tôi vẫn đến quán để gặm nhấm lại những cảm giác tôi từng có với em, và lần nào cũng được bà chủ quán chiêu đãi ca khúc ấy.
          - Tôi nghĩ ra đi là con đường tốt nhất cho cô ấy, và cho cả cậu ở thời hiện tại. Biết đâu cô ấy đang tìm lại được những mảnh cảm giác đã đánh mất từ tương lai, và sẽ quay lại vào một thời gian thích hợp nào đó? - Bà chủ quán rít một hơi thuốc dài, nhả trắng xóa không gian, cười khẩy động viên tôi - Đã có những lúc tôi mất đi tất cả ở chiều này, nhưng chúng lại trở về với tôi ở một chiều khác.
          Có lẽ bà chủ quán nói đúng. Chẳng ai biết được nơi thời gian sẽ tới. Tôi không sợ thời gian. Một khi đời tôi vẫn còn cảm giác.

_Đức Long_

Hải Phòng ngày 4 tháng 1 năm 2015

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Những bậc thầy trong việc sử dụng mix voice ở âm nhạc đại chúng

Mix voice là kĩ thuật cơ bản nhất mà bất kì ca sĩ nào cũng phải học và sử dụng, dù là nhạc đại chúng hay nhạc cổ điển. Nó chỉ khác nhau ở các tên gọi mà thôi. Nói một cách đơn giản, mix voice (còn gọi là passagio) là kĩ thuật blend giữa chest và head theo những tỷ lệ nhất định để giúp ca hát trở nên dễ dàng, mượt mà hơn. Nhưng có nhiều cấp độ trong việc sử dụng kĩ thuật này.

Ở cấp độ một ca sĩ thông thường, họ chỉ thường lợi dụng mix voice để lên những note cao vút mà bản thân chest voice của họ không làm được. Việc lợi dụng mix voice như vậy dễ dẫn đến việc hát thiếu tinh tế, thiếu liên kết giữa các quãng giọng, để lộ sự chuyển giọng. Từ đó, dẫn đến quan điểm cho rằng ca sĩ mà dùng mix voice là không đẳng cấp. Bùi Anh Tuấn và Hồng Dương có thể coi là hai ví dụ của việc lợi dụng mix voice để belt lên tận G5, A5 nhưng chưa đủ tinh tế.
https://www.youtube.com/watch?v=FBZ2EJINuss

Nhưng ở một ca sĩ sử dụng mix voice ở cấp độ thượng thừa, họ có thể mix ở mọi note họ hát, mix từ thấp đến cao, mix trong toàn bộ bài hát nên không ai nhận ra sự chuyển giọng khi họ hát. Đó mới thực sự là đẳng cấp của sự tinh tế.

Nên nhớ rằng mix voice để lên cao dễ hơn nhiều so với mix ở quãng trung và mix ở tất cả các note, vì khi đó ca sĩ sẽ phải tính toán và cân bằng tỷ lệ chest và head một cách thích hợp nhất trong những quãng mà giọng ngực chiếm nhiều ưu thế hơn. Vì vậy mới có quan điểm cho rằng hát mix là không đẳng cấp, vì họ hiểu lầm rằng mix voice chỉ dùng để lên những note cao vút giống như nhiều ca sĩ vẫn hay dùng để lên note cao.
Lara Fabian là một bậc thầy trong việc sử dụng mix voice, khi cô có thể mix ở mọi chỗ mình hát ra, để làm cho giọng hát trở nên mượt mà nhất có thể, chứ không chỉ ở những note cao vút. Hãy coi clip này, bạn sẽ thấy đẳng cấp khác biệt giữa Lara và các ca sĩ nghiệp dư hát chung với cô, giữa một ca sĩ dùng toàn bộ mix voice trên các note nhạc và các ca sĩ sử dụng chest voice ở các quãng thấp. Việc dùng toàn bộ mix voice giúp Lara hát mượt mà, dễ dàng hơn mà vẫn chắc chắn, vang hơn trong toàn bộ câu hát.
https://www.youtube.com/watch?v=5GmBcAiILGM
Aretha Franklin cũng là một bậc thầy sử dụng mix voice, bà có thể mix để hát note treo trong toàn bộ ca khúc với âm sắc sáng đẹp lộng lẫy và chắc chắn, vang rền, không hề để lộ sự chuyển giọng hay chứng tỏ là đang cố hát note cao.
https://www.youtube.com/watch?v=2ZVUVNJwQKI

_Đức Long_
Hải Phòng ngày 1 tháng năm 2015

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Strange fruit - Khúc ca mang đậm màu da

"Tôi không thể cầm lòng mỗi khi nghe bản nhạc này. Đó là nhân dân của tôi, là máu, là thịt, là ông cha chúng tôi. Ai sẽ trả giá cho điều này? Tin tôi đi! Họ sẽ phải trả giá cho nghiệp chướng họ gây ra. Người da trắng muốn chúng tôi quên ư? Không bao giờ!"

Đó là lời tuyên bố của một người da màu vô danh mà tôi vô tình đọc được khi nghe ca khúc Strange fruit. Trong bất cứ thời đại nào, tiếng nói của một người vô danh luôn là tiếng nói đại diện lớn nhất cho quần chúng. Vì anh ta chẳng là ai cả, anh ta chính là nhân dân. 
Tôi không phải người da màu, nhưng tâm hồn của một con người đủ để tôi cảm nhận được các cung bậc cảm xúc, suy tư và thấu hiểu, đồng cảm với những mất mát, đớn đau của họ ẩn giấu trong ca khúc này. Những nỗi đau trong sự kì thị, đàn áp, phân biệt đối xử tưởng như đã nguôi ngoai, nhưng kì thực vẫn đang cháy âm ỉ trong lòng mỗi người da màu như vết thương không bao giờ lành, để rồi tóe máu theo từng cơn chấn động, mà điển hình là các vụ cảnh sát Mỹ bắn chết thanh niên da màu gần đây. Trong thời gian này, tôi muốn giới thiệu một lần nữa Strange fruit - ca khúc được bồi đắp nên từ máu thịt của người da màu với thế hệ ngày nay, để các bạn nhớ về lịch sử, rằng đã đã từng có thời đại như thế, có những nỗi đau không bao giờ quên.

Để hiểu và cảm nhận một ca khúc nhạc jazz cách đây gần một thế kỉ không phải điều dễ dàng, nhưng tôi tin những giai điệu và ca từ ám ảnh của ca khúc sẽ dễ dàng chảy vào tâm hồn bạn nếu bạn chịu gạt đi sự hời hợt để đón nhận nó.
Strange fruit (Trái lạ) là một ca khúc kinh điển của nền âm nhạc Mỹ với nội dung phản đối nạn phân biệt chủng tộc, đặc biệt là nạn treo cổ người nô lệ da màu tại các bang miền Nam nước Mỹ trong những năm thập niên 20, 30. Ban đầu, nó là một bài thơ được viết bởi nhà văn, nhà giáo Abel Meeropol (bút danh Lewis Allan), được lấy cảm hứng từ những xúc động dữ dội của ông khi chứng kiến bức ảnh của Lawrence Beitler chụp lại cảnh treo cổ hai người đàn ông da màu Thomas Shipp và Abram Smith tại Marion, Indiana vào năm 1930. Sau khi xuất bản vào năm 1937 trên một tạp chí công đoàn dưới tên "Bitter fruit" (Trái đắng) và thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng, nó đã tiếp tục được Abel phổ nhạc và được trình diễn đầu tiên bởi nữ ca sĩ da màu Laura Duncan (cũng là vợ của tác giả) tại Madison Square Garden.
Nhưng ca khúc chỉ thực sự gây chấn động nước Mỹ khi được huyền thoại nhạc Jazz Billie Holiday thể hiện lại. Billie nói rằng, ban đầu bà không dám hát ca khúc này vì sợ sẽ bị trả thù, nhưng nó làm bà nhớ đến hình ảnh cha mình, nên bà đã thể hiện lại nhiều lần trong các buổi diễn trực tiếp của mình. Bởi vì tính ám ảnh quá lớn của Strange fruit nên Barney Josephson (người sáng lập nên Cafe Society tại Greenwich Village, New York và cũng là người đã giới thiệu ca khúc cho Billie) đã tạo nên bối cảnh đặc biệt là ngừng mọi phục vụ, đóng tất cả các cửa, tắt toàn bộ đèn, chỉ chiếu sáng duy nhất khuôn mặt Billie khi cô hát ca khúc này. Còn Billie sẽ vừa hát vừa nhắm mắt như đang nguyện cầu. 
Tầm ảnh hưởng của ca khúc lớn tới mức, Samuel Grafton của tờ The New York Post đã phải thốt lên rằng: "Nếu sự giận dữ của những người nô lệ ở miền Nam gắn kết đủ lớn với nhau, bài hát sẽ trở thành bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của họ". Tạp chí Time gọi nó là bài hát của thế kỉ, còn New Statesman xếp nó vào danh sách 20 ca khúc chính trị hay nhất. Năm 1978, ca khúc được vinh danh tại Grammy Hall of Fame. Nó cũng được Hiệp hội Ghi âm Mỹ và Quỹ Nghệ thuật quốc gia Mỹ xếp vào danh sách những ca khúc của thế kỉ XX. Không những vậy, nó còn trở thành nguồn cảm hứng lớn với các nhà văn, tiểu thuyết gia, các ca sĩ, nghệ sĩ, thậm chí cả với nhạc opera.

Southern trees bear strange fruit,
Blood on the leaves and blood at the root,
Black bodies swinging in the southern breeze,
Strange fruit hanging from the poplar trees.

Pastoral scene of the gallant south,
The bulging eyes and the twisted mouth,
Scent of magnolias, sweet and fresh,
Then the sudden smell of burning flesh.

Here is fruit for the crows to pluck,
For the rain to gather, for the wind to suck,
For the sun to rot, for the trees to drop,
Here is a strange and bitter crop.

Dịch:

Cây phương Nam mang nặng trái lạ
Máu vướng tóe lá, tưới đỏ gốc cây
Gió phương Nam lay xác người đen
Phất phơ trái lạ trên cây nhân loại

Người tình phương Nam lãng du sương trắng
Mắt trắng dã lồi trên môi đỏ xoắn
Hương ngọc lan rất ngọt và tươi
Tỏa ngát xen cùng mùi thịt cháy

Đây là trái cho quạ nhấm nháp
Cho mưa góp lại, cho gió cuốn tan
Cho trời thối nát, cho cây đổ lệ
Cho bàng hoàng trong mùa cay đắng.

Đức Long dịch
Toàn bộ ca khúc từ ca từ đến giai điệu đều toát lên một không khí tang thương, chết chóc đến ngạt thở. Đó chính là không gian sống của người da màu tại Mỹ những năm đầu thế kỉ XX, khi mà sự kinh dị, man rợ, đáng sợ trở thành một phần gắn với cuộc sống của họ. Cùng là con người như nhau, nhưng họ lại trở thành nô lệ cho người da trắng, bị khinh rẻ, chửi bới, đánh đập, giết chóc, bị đối xử không hơn một con vật. Họ sống ngày hôm nay mà không biết đến ngày mai, sống trong đau đớn cả về thể chất lẫn tinh thần, sống cùng mất mát, sống cận kề cái chết. Hàng ngày họ bước ra đường với sự tủi nhục, kinh hãi khi phải nhìn thấy xác đồng bào mình lủng lẳng trên cây, khi phải ngửi mùi thịt người cháy mà không biết liệu đó có phải anh chị em của mình hay không, và hoang mang không biết mình cùng những người thân thích sẽ sống thêm được bao nhiêu giờ nữa. Đó là một cuộc sống hoảng loạn, bế tắc, không lối thoát, không tương lai. "Trái lạ" là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo và giàu sức gợi, giúp tác giả tạo nên sự đối lập giữa quả ngọt và cay đắng, từ đó phô bầy bản chất ăn thịt người man rợ của những kẻ da trắng độc quyền. Số phận của nhân dân da màu cũng mong manh, lơ lửng như trái trên cây, họ không được phép làm chủ cuộc đời mình mà có thể "rơi rụng" bất cứ lúc nào tùy theo ý muốn của "kẻ hái quá" là những người da trắng. Đây chính là trạng thái "dùng định mệnh nhân tạo để đè lên định mệnh tự nhiên" mà đại văn hào Victor Hugo đã nói cách đó gần cả thế kỉ,. Ở những câu cuối là nỗi phẫn uất, căm hận trào dâng, bật thành những lời nguyền rủa, đay nghiến đến tận xương tủy. Đó là lời tác giả mà cũng là lời của những người da màu đang ngày đêm phải chịu đắng cay trong xã hội hiện đại.
Âm nhạc là một hình thức quan hệ thẩm mỹ đặc biệt giữa chủ thể và và khách thể thẩm mỹ. Trong đó, chủ thể thưởng thức thẩm mỹ muốn tiếp nhận các giá trị thẩm mỹ do chủ thể sáng tạo thẩm mỹ tạo ra phải thông qua chủ thể biểu hiện thẩm mỹ. Và cảm xúc thẩm mỹ mà chủ thể thưởng thức thẩm mỹ có được hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể biểu hiện thẩm mỹ. Rất nhiều trường hợp chủ thể sáng tạo thẩm mỹ thành công được là nhờ mối quan hệ cộng sinh qua lại với chủ thể biểu hiện thẩm mỹ, chẳng hạn như Trịnh Công Sơn và Khánh Ly. Bởi vậy, khi nói đến thành công của Strange fruit không thể không nhắc tới những ca sĩ đã từng thể hiện thành công nó. Có nhiều ca sĩ đã từng thể hiện Strange fruit, nhưng tôi chỉ giới thiệu ba người mà tôi cho là thể hiện rõ nhất được cái hồn của ca khúc này. 
Trong số những danh ca đã từng thể hiện Strange fruit, không thể không nhắc tới huyền thoại nhạc Jazz/Blues Billie Holliday - người thể hiện thành công nhất ca khúc này và đưa nó thành ca khúc gắn liền với tên tuổi của mình. Tôi cho rằng, chỉ những người da màu từng trải qua tột cùng của đau khổ, tủi nhục mới có đủ trải nghiệm để thể hiện Strange fruit, và điều đó hiển nhiên đúng với Holliday. Một tuổi thơ cùng cực, thiếu vắng tình thương của cha, từng bị hãm hiếp và bị ép phải làm gái điếm khi chưa đầy 14 tuổi, tất cả những cay đắng đó đã giúp Holliday thấu hiểu được cái bi thương, u buồn, bế tắc của cả một thế hệ ẩn chứa trong Strange fruit. Tất cả những cảm xúc đó đã được thể hiện một cách hoàn hảo qua tiếng hát ma mị của cô. Chất giọng nữ trung trầm khàn bẩm sinh của Holliday như được sinh ra để dành cho Strange fruit, vì màu giọng ấy vô tình lại hợp với ca khúc trên mọi note nhạc, mà khó có thể tìm thấy giọng hát nào vừa vặn hơn. Cách hát u uất đầy tính tự sự, lâu lâu lại nhấn vào vào những từ đắt bằng việc gằn giọng và rung nhẹ ở vùng hạ âm để kéo trùng ca khúc xuống theo tiếng piano giúp Holliay lột tả được cái hồn của bài hát, mà lại không bộc cháy hết ra ngoài như các ca sĩ nhạc Soul/R&B, vẫn ẩn đi nhiều nỗi niềm để người nghe trải nghiệm. Nghe Holliday, chúng ta sẽ cảm nhận rõ được sự dằn vặt, quằn quại trong tâm hồn của người hát, những cảm giác không bề bộc ra mà nén vào từng note nhạc, từng câu từng chữ, tạo nên nhiều tầng vỉa khác nhau. Có thể nói, cái u buồn đặc trưng của nhạc Jazz/Blues đã được định nghĩa từ Billie Holliday.

 https://www.youtube.com/watch?v=h4ZyuULy9zs

Người thứ hai mà tôi muốn giới thiệu là Diana Ross - một trong những nữ ca sĩ tiên phong của nền âm nhạc Mỹ. Chất giọng light lirico soprano với độ vang, sáng tự nhiên của Diana mang lại một không khí mới cho bài hát, da diết, khắc khoải và có chất "tình" hơn, gần giống một bản tình ca, nhưng vẫn lột tả đúng chất u buồn, nặng trĩu tang thương của ca khúc. Diana hát ca khúc này trong bộ phim Lady sings the Blues do cô thủ vai chính, hóa thân vào huyền thoại Billie Holliday, Trong bộ phim này, Diana đóng một đoạn nhỏ vào vai một cô gái trẻ đang rất vui tươi, hạnh phúc khi đến chỗ hẹn với người yêu thì phải kinh hãi chứng kiến anh ta bị treo cổ ngay tại nơi hẹn hò của hai người. Đoạn clip chỉ dài chưa đầy một phút, nhưng đủ gây ám ảnh và gợi nhiều trạng thái cảm xúc, suy tư của bất kì người nào đã từng xem nó.

https://www.youtube.com/watch?v=vxeI5gFJZRw

Nhưng đối với tôi, người thể hiện hay nhất Strange fruit là nữ hoàng nhạc Jazz Nina Simone. Đây là tiếng hát để lại cho tôi nhiều nỗi ám ảnh và cảm xúc nhất, cũng là phiên bản mà tôi nghe nhiều nhất của ca khúc này. Cũng giống như Holliday, Nina cũng từng trải qua tuổi thơ phiền muộn khi phải sống trong sự kì thị chủng tộc. Cô đã phải chứng kiến cảnh bố mẹ mình bị yêu cầu nhường chỗ cho một cặp da trắng khi đến xem con gái biểu diễn. Và chính cô cũng phải từ bỏ ước mơ trở thành nghệ sĩ piano cổ điển của mình khi không được nhận vào một học viện âm nhạc danh tiếng chỉ vì cô là người da màu.

Chất giọng nữ trầm kịch tính hiếm có mang đậm chất Africa pop của Nina không chỉ để lại ấn tượng lạ và độc ngay từ những note nhạc đầu tiên, mà còn toát lên rõ nhất hương vị đặc trưng của người da màu, từ tâm hồn, tính cách đến ngoại hình, lối sống. Nghe Nina thể hiện Strange fruit, dù không cần biết tên hay nhìn mặt ca sĩ, người ta cũng biết chắc chắn đây là một người da màu, chỉ có tiếng hát này mới truyền đạt được tất cả về người da màu. Và đương nhiên, với một ca khúc dành riêng cho người da màu như Strange fruit thì giọng hát của Nina là sự lựa chọn tuyệt vời nhất.

Người ta nói Nina là ca sĩ của nỗi buồn, vì cô hát cái gì cũng buồn đến cùng cực. Bởi vậy, Strange fruit cũng được Nina thể hiện với một nỗi buồn đắng cay tận cùng, mà không ai có thể lột tả được nỗi buồn sâu hơn như thế. Chất smoking đặc trưng trong tiếng hát của Nina luôn bao phủ không gian nghệ thuật bằng một màn khói thuốc phiêu lãng mỗi khi ca khúc được bật lên, từ đó càng làm gia tăng nỗi buồn thêm gấp bội phần. Bên cạnh nỗi buồn, Nina cũng lột tả rõ sự day dứt, quằn quại và đau đớn về thể chất lẫn tinh thần ở một con người da màu khi phải hứng chịu sự kì thị, đối xử bất công, tàn bạo qua cách hát chưng hửng, tối giản, bỏ lửng câu chữ. Qua lối hát tự sự, chậm rãi của Nina, khán giả như đang được nghe trực tiếp một người da màu mang trên mình nhiều vết thương kể lại câu chuyện cay đắng về đồng bào họ vậy. Một điều vượt trội hơn ở Nina so với những ca sĩ khác từng thể hiện ca khúc này là khả năng nhả chữ vô cùng tinh tế, sâu sắc của cô. Hãy nghe kĩ từng chữ được phát âm ra, bạn sẽ thấy rõ đằng sau mỗi ngắt nghỉ, lên cao, xuống thấp đều là một cung bậc cảm xúc khác nhau, lúc vô vọng, lúc bất cần, lúc đổ lệ, lúc lại đay nghiến. Ở điểm này, Nina đã thực sự đạt tới cảnh giới kể chuyện bằng giọng hát. Việc tung ra một note A4 đanh dày, khỏe khoắn, âm lượng khổng lồ kéo dài ở chữ "Trees" cuối bài giúp phần thể hiện của Nina trở thành phiên bản duy nhất có sự cao trào, kịch tính và bùng nổ thực sự. Note A4 này là điểm nhấn lớn nhất của toàn ca khúc, vừa thể hiện đỉnh điểm của sự đau đớn, cay đắng, vừa như một lời nguyền rủa, kết án đanh thép tội ác của người da trắng. Note nhạc kéo dài rồi nhỏ dần đi, giàm xuống G4 để vang vọng mãi mãi theo không gian, thời gian, không bao giờ dứt. Sẽ không ai có thể hát được note A4 đó, vì chỉ có giọng hát nội lực, khổng lồ, thô ráp, đong đầy cảm xúc của Nina mới thể hiện rõ được tính sử thi, ma mị, quyền lực đáng sợ của nó. Ngay sau đó, chữ "drop" được nhấn thật thấp như một dấu chấm nặng kéo trùng toàn bộ ca khúc xuống, thể hiện sự tuyệt vọng, bế tắc, không lối thoát. Từ dấu cấm đó đến cuối bài chỉ còn lại tiếng hát yếu ớt, vô vọng đang tắt dần.

https://www.youtube.com/watch?v=ughAVo2ZAag

Âm nhạc cũng giống như văn học, là bức tranh phản ánh lịch sử, phản ánh hiện thực khách quan qua ánh mắt của người nghệ sĩ. Những ca khúc giàu ý nghĩa nội dung, nghệ thuật như Strange fruit xứng đáng là khúc ca bất tử ghi lại một thời kì lịch sử của loài người. Nếu bạn coi âm nhạc chỉ là phương tiện giải trí, có thể không cần phải nghe ca khúc này, nhưng nếu bạn coi âm nhạc là nghệ thuật, tôi khuyên bạn nên nghe để hiểu hơn những giá trị của cuộc sống, của nghệ thuật.

_Đức Long_
Hải Phòng ngày 22 tháng 12 năm 2014