Nhạc Trịnh là kho tàng đồ sộ chưa bao giờ cạn kiệt, để các ca sĩ nhiều thế hệ cùng nhau khai thác, tìm tòi.
Từ trước tới nay, đã có vô số ca sĩ tìm đến nhạc Trịnh và coi nó như mảnh đất màu mỡ để thể hiện tài năng, tâm hồn mình. Trong đó, Hồng Nhung và Thanh Lam là hai tên tuổi khá nổi bật, gây dấu ấn lớn và cũng tạo ra nhiều tranh cãi nhất.
Rất nhiều người khen ngợi Hồng Nhung và Thanh Lam hát nhạc Trịnh hay, thể hiện được đúng điệu hồn của nó và truyền tải dấu ấn cá nhân. Nhưng cũng không ít ý kiến cho rằng, cả hai diva đều hát chưa tới, thậm chí là "phá nát" nhạc Trịnh.
Vừa qua, nhạc sĩ Dương Thụ một lần nữa tạo dư luận khi nói: "Thanh Lam, Hồng Nhung mà hát nhạc Trịnh thì hỏng hết".
Vậy, Hồng Nhung và Thanh Lam hát nhạc Trịnh hay hay dở?
Hồng Nhung – Cái tên được chính Trịnh Công Sơn bảo chứng
Hồng Nhung bắt đầu hát nhạc Trịnh khi còn rất trẻ, từ lúc cô gặp Trịnh Công Sơn. Khi ấy, cô Bống còn chưa đầy 20 tuổi.
Năm 22 tuổi, Hồng Nhung thực hiện bản thu âm đầu tiên cho ca khúc Diễm xưa. Đó cũng là bản thu nhạc Trịnh sớm nhất của cô.
Bản thu Diễm xưa năm 1992 của Hồng Nhung
Vì hát từ rất sớm như vậy nên hiển nhiên Hồng Nhung sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, do tuổi đời còn quá trẻ. Hơn nữa, cách hát của Hồng Nhung lại rất mới, gần như đối lập hoàn toàn với tượng đài Khánh Ly, vốn đã ghi dấu quá lớn trong lòng khán giả.
Chính vì thế, việc Hồng Nhung hát nhạc Trịnh đã bị không ít người chê bai. Họ cho rằng, cách hát của Hồng Nhung không thể hiện đúng chất nhạc Trịnh và chưa đủ sâu sắc, trải nghiệm. Đa số các ý kiến này đều so sánh Hồng Nhung với Khánh Ly.
Tuy nhiên, người ta đã quên mất rằng, giống như Khánh Ly, Hồng Nhung từng có thời gian dài quen biết Trịnh Công Sơn và được ông dìu dắt, giải nghĩa từng câu chữ và hướng dẫn cặn kẽ đường đi lối lại trong nhạc của mình.
Không những vậy, Hồng Nhung còn là tình nhân của Trịnh Công Sơn, nên ắt hẳn phải có sự đồng điệu, giao cảm về tâm hồn.
Hồng Nhung hát Tôi ru em ngủ
Bởi thế, nói Hồng Nhung chưa hiểu nhạc Trịnh, hay hát không ra chất nhạc Trịnh là hoàn toàn sai lầm. Bản thân Trịnh Công Sơn cũng từng nói: "Hồng Nhung làm mới lại những ca khúc của tôi. Có người thích có người không thích.
Tuy nhiên tôi thích vì đó là cách biểu hiện mới phù hợp với thời hiện đại - một sự lãng mạn mới. Nó giúp mình có được một chỗ ngồi trong hiện tại chứ không phải là kẻ nhắc tuồng từ quá khứ".
Đến ngay cả tác giả còn thích Hồng Nhung hát nhạc Trịnh, thì không có lẽ nào khán giả lại chê bai rằng cô hát không ra chất hay thiếu sâu sắc được.
Thực sự, Hồng Nhung hát nhạc Trịnh không những hay, mà còn rất hay, rất mới, rất sáng tạo. Có thể nói, cô là một hiện tượng độc đáo, đã đem đến cho nhạc Trịnh một trường phái mới, không kém cạnh gì những tượng đài nhạc Trịnh trước như Khánh Ly, Ngọc Lan.
Cách hát của Hồng Nhung có thể hợp với người này, không hợp với người kia, nhưng không thể phủ nhận, nó mang màu sắc rất mới và riêng biệt.
Nói cách khác, chỉ từ khi Hồng Nhung xuất hiện, nhạc Trịnh mới được khoác lên mình tấm áo mới. Nó không còn buồn, sầu như trước, mà trở nên vui tươi, trong sáng, trẻ trung hơn, dương tính hơn.
Nhạc Trịnh của những ca sĩ trước đó giống như một cố nhân nửa đời phiêu bạt, đầy chiêm nghiệm suy tư, còn qua tiếng hát Hồng Nhung, nó trở thành người con gái xuân thì đang trỗi dậy đầy sức sống, thấm nhuần gió thanh xuân.
Hồng Nhung hát nhạc Trịnh vô cùng trong sáng, thanh khiết, nhưng không hề thiếu sự tinh tế, sâu sắc, được thể hiện qua từng cách nhấn nhá, bỏ nhỏ, nâng niu con chữ của cô. Có thể thấy rõ điều này qua những ca khúc như Tuổi đá buồn, Như cánh vạc bay…
Hồng Nhung hát Như cánh vạc bay
Hồng Nhung có một chất giọng hiếm có đặc biệt, thuộc loại Dugazon (lai giữa mezzo soprano và soprano), âm sắc vô cùng đẹp, sáng như chuông khánh, êm như nhung và vang xa. Và độ đẹp này được thể hiện rõ nhất khi cô hát nhạc Trịnh. Nó rất nữ tính, nhẹ nhàng, đậm tính legato và thuần Việt.
Không những vậy, Hồng Nhung còn rất sáng tạo khi hát nhạc Trịnh, mà vẫn vừa đủ. Các sáng tạo ấy được thể hiện qua sự phong phú, đa dạng về kĩ thuật.
Chẳng hạn, Hồng Nhung có thể phiêu head voice legato cả một đoạn dài trên B5 với các speed khác nhau, hay kéo dài đoạn belting trên A4 tới tận 18 giây vang lồng lộng. Tất cả những điều này đem đến cho nhạc Trịnh một đẳng cấp học thuật mới, khác hẳn với nét mộc mạc trước đây.
Hồng Nhung hát Ru em từng ngón xuân nồng
Đặc biệt, Hồng Nhung còn tạo nên những bài hit của riêng mình khi hát nhạc Trịnh, mà chưa ai vượt qua được. Chẳng hạn, các ca khúc như Đóa hoa vô thường, Thưở Bống là người, Bống Bồng ơi… đã đóng đinh dấu ấn của cô, mà đến tượng đài Khánh Ly hát cũng không hay bằng.
Hồng Nhung hát Thưở Bống là người
Một số bản phối nhạc Trịnh được Hồng Nhung sử dụng cho album riêng bỗng trở thành chuẩn mực mới, khiến ai ai cũng làm theo. Chẳng hạn, đoạn nhạc dạo đầu cho ca khúc Ru em từng ngón xuân nồng được rất nhiều ca sĩ (trong đó có cả Khánh Ly) sử dụng để phối lại.
Thanh Lam – gây tranh cãi nhưng không kém phần độc đáo
Trong số những ca sĩ từng hát nhạc Trịnh thì Thanh Lam là cái tên gây tranh cãi nhất.
Với quan điểm đã hát lại bài cũ là phải thể hiện được cá tính, thổi dấu ấn cá nhân của mình vào tác phẩm, cộng thêm bản năng mạnh mẽ, Thanh Lam dường như sáng tạo nhạc Trịnh theo lối rất riêng, không giống ai.
Thanh Lam hát Một cõi đi về
Cô hát nhạc Trịnh với sự hừng hực, bùng cháy của ngọn lửa đam mê, khí thế, đầy dữ dội, với những đoạn belt cộng minh căng lồng lộng, cộng thêm cách đãi chữ, lả lơi đúng phong cách của mình.
Chính vì điều này, Thanh Lam đã khiến công chúng phải xôn xao. Nhiều người còn cho rằng, cô đang "vác cày leo núi", "cày nát nhạc Trịnh".
Thanh Lam hát Phôi pha
Việc Thanh Lam hát nhạc Trịnh hay hay dở tùy thuộc vào cảm nhận cá nhân của người nghe, nhưng không thể phủ nhận, cô rất có ý thức trong việc thể hiện lại nó.
Thanh Lam không hề bị ảnh hưởng hay đi theo những lối mòn có sẵn, mà luôn tìm tòi, khai phá cái mới. Đó là điều đáng trân trọng.
Thanh Lam hát Ru đời đi nhé
Nếu khán giả Việt tiếp nhận âm nhạc trên tinh thần tôn trọng cái mới và sự sáng tạo, không bị lệ thuộc vào những giá trị xưa cũ như khán giả nước ngoài, họ sẽ có cách phản ứng khác.
Tuy nhiên, Thanh Lam không chỉ biết "cuồng nộ", cô cũng hát nhạc Trịnh rất tinh tế, dịu dàng, có hồn và hơn người ở khoản xử lí giai điệu rất khéo, giàu nhạc tính.
Thanh Lam hát Ngẫu nhiên
Đặc trưng của Thanh Lam là đem lại sự khắc khoải, cháy bỏng, đầy khát vọng sống cho nhạc Trịnh. Nó rất động, chứ không phải sự tĩnh lặng, u hoài.
Thậm chí, Thanh Lam còn xử lí được nhạc Trịnh trên các thể loại khác. Nhờ đó, cô cũng đem đến cho nhạc Trịnh một màu sắc hoàn toàn mới.
Long Phạm
Trang web âm nhạc cộng đồng. Hỗ trợ chúng tôi qua tài khoản: 178204122, ngân hàng VP Bank. Rất biết ơn nếu được hỗ trợ.
Nghệ sĩ nhân dân là danh hiệu cao quý nhất mà nhà nước Việt Nam trao tặng cho nghệ sĩ, tương tự như các danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân…
Để đạt được danh hiệu này, người nghệ sĩ phải thực sự tài năng và có cống hiến, tầm ảnh hưởng tới nền nghệ thuật dân tộc. Đây cũng là danh hiệu được nhiều nghệ sĩ khát khao vươn tới.
Thời gian gần đây, việc xét duyệt danh hiệu nghệ sĩ nhân dân đang được công chúng quan tâm, với nhiều ý kiến.
Tuy nhiên, đa số công chúng vẫn tin tưởng vào giá trị của danh hiệu nghệ sĩ nhân dân. Niềm tin này được gầy dựng từ những nghệ sĩ nhân dân đích thực – những người tài năng và có cống hiến to lớn, khiến ai cũng phải nể phục. Sự tồn tại của họ là bảo chứng cho giá trị danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, hễ nhắc tới là khán giả đều gọi tên.
Một trong những nghệ sĩ nhân dân đích thực đó là Lê Dung, người được mệnh danh là "cánh chim đầu đàn của nền nhạc cổ điển, thính phòng Việt Nam". Sau hơn 20 năm qua đời, NSND Lê Dung đã thực sự trở thành một huyền thoại âm nhạc về giọng hát hiếm hoi của nhạc Việt. Sự nghiệp và tài năng của bà có ảnh hưởng sâu rộng đến khán giả Việt, luôn là tấm gương để mọi thế hệ đàn em noi theo.
NSND Lê Dung
Diva nhạc cổ điển đầu tiên của Việt Nam
Ca sĩ Mỹ Linh khi được hỏi về danh xưng Diva đã trả lời một cách chắc nịch: "Ở Việt Nam, nếu có Diva thì chỉ hai người xứng đáng. Đó là NSND Lê Dung và Thanh Lam".
Nhận định của Mỹ Linh hoàn toàn có cơ sở và nhận được nhiều đồng tình từ giới mộ điệu âm nhạc. Nếu Thanh Lam là giọng nữ trung có tầm ảnh hưởng lớn tới nhạc nhẹ thì NSND Lê Dung là giọng nữ cao đứng đầu nền nhạc cổ điển, thính phòng Việt Nam.
Ở một khía cạnh khác, cũng chỉ duy nhất NSND Lê Dung đủ sức nặng, kỹ thuật, tầm ảnh hưởng để cùng đệ nhất danh ca Thái Thanh tạo thế song hành về hai giọng nữ cao huyền thoại – một cổ điển, một tân nhạc.
Lê Dung sinh ra và lớn lên tại Hạ Long, mảnh đất được cho là có thổ nhưỡng, khí hậu đặc biệt khi sản sinh ra rất nhiều giọng hát chất lượng cho nền âm nhạc Việt Nam.
Gia đình không khá giả, Lê Dung chỉ đi học nửa ngày, còn nửa ngày phụ mẹ làm ruộng, gánh rau ra chợ bán. Dù mới học lớp 8, Lê Dung đã gánh được những gánh rau rất nặng. Những năm tháng gánh rau thời thơ ấu giúp Lê Dung rèn luyện thể lực tốt, thích hợp để luyện hơi dài, giọng khỏe, hát cổ điển sau này.
Lê Dung từ nhỏ đã mê ca hát và bộc lộ rõ năng khiếu. Nhạc sĩ Bùi Đức Huyên khi còn làm công tác Đoàn ở Quảng Ninh đã đến lớp học của Lê Dung và phát hiện ra tài năng của bà.
Quá thán phục chất giọng ấy, ông lập tức đưa Lê Dung vào CLB Thiếu nhi Hạ Long, đưa đi diễn, thu thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam, đi hát phục vụ các đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước mỗi khi đến Hạ Long. Ông nhận xét:
"Trong dàn hợp xướng vài trăm em khi ấy, Lê Dung là người diễn xướng có giọng hát đơn nổi trội. Giọng Lê Dung rất khỏe. Nhờ có tiếng hát Lê Dung mà nâng cao chất lượng câu lạc bộ lên".
Lê Dung từng được hát trước Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cả hai sau khi nghe cô bé gầy nhỏ hát xong đều đến xoa đầu và khen hát hay.
Năm 17 tuổi, Lê Dung đầu quân vào Đoàn Văn công Quân khu Tả Ngạn và đi hát khắp các chiến trường, hầm mỏ. Tiếng hát át tiếng bom, Lê Dung đã thực sự trở thành người chiến sĩ với vũ khí là giọng hát. Bà không ngại gian nan, hiểm nguy, sẵn sàng lao vào chốn bom đạn, rừng núi để hát phục vụ công nhân, bộ đội, dân quân, cổ vũ tinh thần, sức chiến đấu cho đồng đội.
Rất nhiều chiến sĩ những năm tháng đó sống và chiến đấu cùng giọng hát Lê Dung. Họ lấy tiếng hát ấy làm nguồn động lực để quên đi vất vả, có thêm ý chí chiến đấu.
Con trai Lê Dung là Nguyễn Anh Tuấn từng hé lộ kỷ niệm về những chiến sĩ bộ đội chiến đấu bên sông Vàm Cỏ mong được gặp Lê Dung một lần. Họ yêu thương tới mức gửi từ phương xa một chiếc khăn kèm một lá thư tới, dặn Lê dung đeo khăn vào cổ cho ấm, giữ gìn giọng hát. Họ muốn một ngày nào đó được nghe Lê Dung trực tiếp ở ngoài. Anh nói:
"Trong lá thư, các chiến sĩ tỏ ra rất xúc động vì tiếng hát mẹ tôi đã đi theo họ suốt những năm tháng chiến trường. Họ còn mời mẹ tôi tới chiến trường hát để họ được nghe trực tiếp".
Nhưng rồi, khi Lê Dung đi tìm những chiến sĩ đó thì hay tin họ đã ngã xuống. Bà bật khóc nức nở và buồn lắm. Nhưng niềm hạnh phúc lớn nhất với Lê Dung là những chiến sĩ ấy đã mang theo tiếng hát của bà để hi sinh vì Tổ quốc.
Năm 1976, Lê Dung về Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị và sau đó một năm, bà theo học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội.
Suốt thời gian học tại Nhạc viện, Lê Dung vô cùng chăm chỉ rèn luyện các kỹ thuật, mài dũa giọng hát để ngày một điêu luyện hơn. NSND – giáo sư Trung Kiên, người thầy của Lê Dung nhớ về cô học trò xuất sắc:
"Trong 5 năm học tại Nhạc viện Hà Nội, Lê Dung đã có bước trưởng thành rất lớn, thể hiện bước đi của một ca sĩ lớn trong tương lai".
Năm 1982, Lê Dung tốt nghiệp thủ khoa Nhạc viện và tiến bước vào con đường ca hát chuyên nghiệp. Với tâm hồn nghệ sĩ bay bổng, rộng mở, lãng mạn và trẻ trung, Lê Dung tạm rời nhạc cách mạng để bén duyên với nhạc nhẹ. Bà hát rất nhiều nhạc của những nhạc sĩ danh tiếng như Văn Cao, Phạm Duy, Phú Quang, Dương Thụ…
Nhờ những năm tháng hát nhạc nhẹ, Lê Dung đã tự nâng cao khả năng cảm thụ, thẩm mỹ âm nhạc và cách xử lý ca khúc đầy tinh tế, điêu luyện, không bị cứng nhắc, một màu. Có một điều đặc biệt ít ai biết, Lê Dung cũng là NSND đầu tiên thu âm cho trung tâm băng nhạc tại hải ngoại. Điều đó cho thấy, tiếng hát của bà đã sớm vươn khỏi nhạc cách mạng để đi xa hơn tới tân nhạc, nhạc trữ tình, khác hẳn nhiều đồng nghiệp cùng thời.
Nhưng Lê Dung chưa bao giờ ngừng học hỏi và khát khao vươn lên những tầm cao mới. Dù đã nổi tiếng, nhưng Lê Dung vẫn quyết định tạm gác lại sự nghiệp để theo học cao học thanh nhạc tại Nhạc viện Tchaikovsky, Nga.
Tại đây, bà được tiếp xúc với nền nhạc cổ điển đồ sộ của phương Tây, học hỏi những danh ca lớn và được những giảng viên có kinh nghiệm rèn dũa. Nhờ đó, Lê Dung tiếp thu nền học thuật thanh nhạc cổ điển và dần ngấm vào máu lúc nào không hay, khiến bà quyết tâm theo đuổi con đường âm nhạc đầy chông gai, kén người nghe này.
Sau 4 năm du học, năm 1990, Lê Dung về nước và trở thành nghệ sĩ solo của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Kể từ đây, sự nghiệp Lê Dung đã bước sang một trang mới, gắn liền với nhạc cổ điển và tạo nên những kỳ tích cho nền âm nhạc thính phòng Việt Nam, giúp bà trở thành huyền thoại không thể thay thế.
Trước Lê Dung, nhạc cổ điển đã được du nhập vào Việt Nam nhờ người Pháp và những trí thức Tây học, nhưng chưa thực sự phát triển. Nhạc cổ điển chỉ tồn tại trong một bộ phận nhỏ giới tri thức, ít tiếp cận được công chúng bình dân. Người Việt có biết tới nhạc cổ điển nhưng không nhiều, cũng không quen với cách hát bằng head voice thuần phương Tây.
Lê Dung trong suốt thập niên 90 đã đi diễn ở khắp các sân khấu lớn nhỏ. Không chỉ trên sân khấu lớn, sang trọng như Nhà hát Lớn hay các dinh, tòa đại sứ, bà còn diễn ở nhiều sân khấu bình dân và lên sóng phát thanh, truyền hình, phủ khắp mọi ngõ ngách.
Đặc biệt, Lê Dung không chỉ hát nhạc cổ điển mà còn dùng lối hát cổ điển để hát những bài nhạc dân ca, cách mạng vốn đã quen thuộc với công chúng. Nhờ Lê Dung, lần đầu tiên khán giả Việt được nghe những bài nhạc cách mạng qua một lối hát mới đầy học thuật (trình diễn trên head voice dựng tiếng) nhưng cũng dung dị, mộc mạc, không quá phô diễn.
Từ đó, Lê Dung đã phổ biến nhạc cổ điển đến khắp khán giả trong nước, ở mọi tầng lớp. Những ca khúc cách mạng bán cổ điển như Mẹ yêu con, Người Hà Nội, Bài ca hy vọng… qua giọng hát Lê Dung đã chiếm trọn trái tim nhân dân, khiến ai cũng xao xuyến, không thể quên. Nói như nhà văn Trần Thị Trường là:
"Người Việt Nam tiếp nhận âm nhạc thế giới đã từ rất lâu. Tuy nhiên, Lê Dung xuất hiện đem một đường dẫn để người Việt tiếp nhận, cảm thụ nó một cách dễ dàng, thú vị hơn.
Lê Dung đã mở ra cho Trần Tiến, Ngọc Tân sau này, làm thế nào để mở ra một đêm hòa nhạc mà không nhàm chán, phải là công của Lê Dung".
Về công lao của NSND Lê Dung với nhạc cổ điển Việt Nam, NSND Phạm Ngọc Khôi nhận định:
"Chị Lê Dung là một trường hợp vô cùng đặc biệt của nền ca hát Việt Nam. Đã lâu lắm rồi chúng ta mới có một nghệ sĩ như vậy.
Chị Lê Dung là người có công rất lớn trong việc đem giá trị của nên văn hóa, âm nhạc thế giới đến với Việt Nam. Chị hát rất nhiều, ở rất nhiều sân khấu trên thế giới và Việt Nam. Chị hát một cách chọn lọc để đưa dòng âm nhạc cổ điển thế giới đến với công chúng Việt Nam".
Không chỉ có công lớn về mặt trình diễn, NSND Lê Dung còn đóng góp nhiều trên công tác giảng dạy. Bà là giáo viên thỉnh giảng bậc cao học thanh nhạc của các trường âm nhạc, nhạc viện ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.
Trong quá trình giảng dạy, NSND Lê Dung đã đào tạo được nhiều ca sĩ, giọng hát tài năng, xuất sắc như Ngọc Anh, Tạ Minh Tâm, Thái Bảo, Ngọc Hoàn… NSND Tạ Minh Tâm tâm sự:
"Tôi được học trực tiếp NSND Lê Dung. Những kinh nghiệm quý báu, năng lượng tích cực và kỹ thuật điêu luyện của tôi đã giúp nghệ thuật thanh nhạc, ca hát của tôi tăng lên. Tôi luôn dành lòng tôn kính cho Lê Dung và thực hiện hoài bão của cô trong công việc tôi làm".
Với những đóng góp to lớn với nền âm nhạc Việt Nam, năm 1991, Lê Dung được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.
Ngoài ra, bà cũng đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước như: Giải tư cuộc thi quốc tế những nghệ sĩ hát opera trẻ, tổ chức tại Sofia (Bulgaria); Giải thưởng Toulouse (Pháp); Giải Mùa xuân tại Bình Nhưỡng (Triều Tiên); Giải Người hát dân ca hay nhất trong cuộc thi âm nhạc quốc tế tại Liên Xô (cũ)…
Rất nhiều ca sĩ cổ điển, bán cổ điển ngày nay đều thần tượng, ngưỡng mộ Lê Dung. Với những thành tích và tầm ảnh hưởng lớn như vậy, NSND Lê Dung xứng đáng là Diva nhạc cổ điển duy nhất tại Việt Nam tính đến hiện tại.
Giọng hát bậc thầy, tài năng hiếm thấy
NSND Lê Dung bẩm sinh thuộc loại giọng light lirico soprano (nữ cao trữ tình sáng mảnh). Loại giọng này khá phổ biến tại Việt Nam, nhưng Lê Dung đã đưa nó lên một tầm cao khác nhờ sự khổ luyện kỹ thuật của mình.
Cần nhìn nhận đúng đắn rằng, Lê Dung dù là một giọng hát trời phú nhưng không được ban cho quá nhiều năng lực tự nhiên. Những gì bà có được là kết quả của sự khổ luyện. Thời mới đi hát nhạc nhẹ, Lê Dung từng bị chê nhiều vì hát thiếu cảm xúc, chông chênh. Nhưng Lê Dung đã lấy chính những lời chê đó làm động lực để rèn luyện ngày một tinh xảo, điêu luyện hơn.
Giọng hát Lê Dung có âm sắc đẹp, sáng lanh lảnh nhưng không chua chói. Con trai bà từng kể lại:
"Có một kỷ niệm tôi không thể quên về mẹ. Khi ấy tôi mới 4 tuổi, thường được mẹ dắt đi tập nhạc. Trừ những đêm biểu diễn, không đêm nào mẹ không dắt tôi đi tập.
Ngày đó piano rất hiếm, mẹ chưa có đàn riêng nên phải lên phòng tập của đoàn mỗi tối để tranh thủ tập riêng cho tôi, ở tận tầng 4. Hồi ấy hay mất điện, hai mẹ con tôi cầm đèn dầu dắt nhau lên tầng 4 tập suốt hai tiếng đồng hồ mỗi buổi. Giọng mẹ tôi cứ lanh lảnh trong đêm.
Tôi phải thừa nhận, mẹ tôi là một nghệ sĩ đích thực, phải khổ luyện mới có được thành tựu sau này".
Lê Dung có một quãng giọng khá rộng, trải dài từ F3 tới C#6, phù hợp với quãng giọng của một giọng nữ trữ tình cổ điển. Hơn nữa, quãng giọng này cũng chính là quãng support của Lê Dung. Với nền tảng kỹ thuật cổ điển bài bản, Lê Dung hát tới note nào là đẹp và support note đó, không có sự căng thẳng, cao thanh quản hay mắc lỗi.
C#6 dù là một note khá cao, nhưng Lê Dung kiểm soát nó khá tốt và thể hiện được nhiều kỹ thuật, sắc thái. Trong bài Cô gái vót chông, Lê Dung chạy staccato trên C#6 linh hoạt nhưng tới aria Caro Nome, bà lại đẩy lên cressendo âm lượng lớn full voice một cách chắc chắn.
Và dù là giọng trữ tình, nhưng nhờ rèn luyện hơi thở và đặt đúng vị trí âm thanh, cộng hưởng tốt, Lê Dung có thể tạo ra những luồng âm lượng lớn, to, vang đầy bão táp trên head voice quãng cao.
Trong một lần song ca cùng NSND Quang Thọ ca khúc Đường chúng ta đi, Lê Dung đã tung một cú head voice Bb5 to tới rè cả loa, át toàn bộ tiếng Quang Thọ. Hay, khi hát aria Pace Pace Mio Dio, Lê Dung cũng tung ra một cú head voice kết Fortissimo Bb5 bùng cháy dữ dội. Gần như chưa có ca sĩ Việt nào dám hát aria này sau Lê Dung.
Nội lực trong giọng hát Lê Dung rất lớn, khiến nhạc sĩ Phú Quang phải thốt lên: "Ngay từ những ngày đầu tiên anh em chúng tôi hợp tác làm âm nhạc với nhau, tôi đã nhận xét: "Vấn đề lớn nhất đối với giọng hát của em khi trình bày bất kỳ một ca khúc nào không phải chuyện "thêm vào" mà là "bớt đi". Em giống như một người con gái đẹp đeo quá nhiều dây chuyền. Em phải bỏ bớt đi hoặc là em đeo lần lượt thì tốt hơn".
Dù vậy, Lê Dung rất ít khi phô diễn giọng hát. Trừ những aria cổ điển và ca khúc bán cổ điển đòi hỏi sự hùng tráng, dữ dội, Lê Dung thường chọn lối hát mềm mại, trữ tình để phát huy tối đa vẻ đẹp giọng hát được đào tạo theo chuẩn Bel Canto (trường phái hát đẹp của Opera Ý).
Lê Dung hát legato rất đẹp, mịn màng và trôi như một dòng suối. Các đoạn piano, pianissimo, mezza di voce được cô áp dụng vào câu hát một cách điêu luyện, thoải mái. Khả năng điều khiển âm lượng của Lê Dung rất tốt, hát lúc to lúc nhỏ, lúc bùng cháy, lúc mềm mại, đem lại biết bao sắc thái cảm xúc trong một câu hát, diễn đạt trọn vẹn tinh thần, nội dung bài hát. Làn hơi của bà rất dài, cột hơi vững vàng, có thể chạy vibrato đều và tròn trịa đến bất tận.
Tuy vậy, điều đáng khâm phục ở Lê Dung không nằm ở những kỹ thuật điêu luyện, phức tạp mà nằm ở cách nhả chữ, luyến láy, xử lý ca khúc.
Ở đa số các ca khúc cách mạng bán cổ điển, Lê Dung dù hát theo lối thính phòng nhưng vẫn thổi vào những nhả chữ luyến mang màu sắc dân ca truyền thống, tạo cho bài hát sự ngọt ngào, mềm mại, dễ chịu và lay động từng tế vi cảm xúc.
Cách Lê Dung nhả chữ vô cùng nắn nót, nâng niu, chứa đựng biết bao tâm sự, nỗi niềm. Có thể nói, biệt tài nhả chữ, phát âm, nhấn nhá, xử lý giai điệu trên head voice của Lê Dung mới là cái khiến cô trở nên độc nhất vô nhị, không ai bắt chước được, chứ không chỉ đơn giản là kỹ thuật hát. Ca sĩ Phương Nga nhận định:
"Mỗi khi hát, cô luôn dành hết sự say đắm, tình cảm cho bài hát. Đặc biệt, từng nhả chữ trong lời bài hát đều rất rõ, rất tình cảm, chuẩn mực vô cùng.
Để làm được như cô thì khó lắm, khó vô cùng. Nghe qua thì thấy rất tự nhiên, nhưng để hát được như cô thì trời ơi, luyện mãi cũng không được. Tôi phải tập luyện cực kỳ nghiêm khắc với chính bản thân mình mới đạt yêu cầu của cô".
Nhạc sĩ Phú Quang cũng đưa ra ý kiến rất chuẩn xác: "Ngay thời điểm Lê Dung vĩnh biệt chúng ta, tôi đã nói, 10 năm sau chúng ta cũng khó mà có thể tìm thấy được người thay thế vị trí của Lê Dung.
Vì ở Lê Dung hội tụ quá nhiều điểm hoàn hảo: là người phát âm Tiếng Việt cực chuẩn, chất giọng đẹp và kỹ thuật tốt. Lê Dung là ca sĩ có học nhất Việt Nam, theo quan điểm của tôi.
Nay đã qua 10 năm, đúng là chưa có ca sĩ nào làm được như Lê Dung, bằng giọng hát tuyệt vời của mình, chinh phục trái tim hàng triệu khán giả mọi lứa tuổi".
Phần thể hiện của Lê Dung là sự hòa quyện tuyệt vời giữa kỹ thuật và cảm xúc. Các ca sĩ sau này khi hát lại ca khúc bà từng thể hiện hầu như chỉ đạt được một trong hai yếu tố, có cảm xúc thì thiếu hụt kỹ thuật hoặc phô diễn kỹ thuật thì đánh rơi cảm xúc.
Không những vậy, Lê Dung còn có một khả năng cảm nhạc rất tốt, cùng bản năng nữ giới đậm đặc, thiết tha, nên truyền đạt cảm xúc rất tình, đầy đam mê, cháy bỏng. Nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài nói:
"Sự nhạy cảm, sự hiểu biết, kỹ thuật đến độ hoàn hảo, với một làn hơi tuyệt vời mà trời phú cho Lê Dung đã thực sự thổi hồn cho những ca khúc của tôi, mà dường như gần 20 năm chỉ để chờ đợi giọng hát điêu luyện của chị.
Đẳng cấp của Lê Dung thể hiện rõ khi chị có thể biểu diễn thể loại thanh nhạc với nhiều cung bậc tình cảm và truyền được những rung cảm mãnh liệt, sự say mê, xúc động của tâm hồn đến người nghe".
Tài năng của Lê Dung là rất lớn, có thể tổng kết lại trong một câu nói của nhạc sĩ Phú Quang: "Lê Dung đúng là một tài năng hiếm thấy trong đời sống âm nhạc".
Thật đáng tiếc khi Lê Dung ra đi quá sớm, ở độ tuổi còn sung sức và nhiệt huyết nhất. Ngày Lê Dung mất, ai ai cũng thương xót, tiếc nuối. Không nhiều nghệ sĩ nhận được nhiều tình cảm của khán giả như bà, một nghệ sĩ nhân dân đích thực.
Long Phạm
Trang web âm nhạc cộng đồng. Hỗ trợ chúng tôi qua tài khoản: 178204122, ngân hàng VP Bank. Rất biết ơn nếu được hỗ trợ.
“Giọng to thì ắt hẳn là giọng kịch tính. Cô này lên note này to nhất thì là kịch tính, hơn cô kia mang tiếng giọng kịch tính mà không lên được note đó”.
Đúng là giọng kịch tính thì phải có một mức âm lượng lớn bẩm sinh để hát được kịch mục kịch tính, nổi trên dàn nhạc đồ sộ. Nhưng điều đó không có nghĩa những loại giọng khác thì âm lượng phải nhỏ hơn giọng kịch tính.
Giọng to hay nhỏ phụ thuộc vào cơ địa và kỹ thuật. Thông thường, các giọng trữ tình âm lượng nhỏ hơn giọng kịch tính nhưng vẫn có những ca sĩ cơ địa đặc biệt hoặc nhờ luyện tập mà vươn đến mức âm lượng lớn hơn. Regine Crespin là một spinto soprano nhưng sở hữu giọng hát đồ sộ với mức âm lượng không hề kém giọng kịch tính nào. Hay, Cindy Lauper là một light lirico soprano nhưng khi song ca với Patti Labelle cũng không hề lép vế. Celine Dion là một giọng full lirico soprano nhưng chưa hề bị át bởi bất cứ ca sĩ nào, kể cả khi song ca cùng falcon soprano Aretha Franklin hay dramatic mezzo soprano như Anastacia.
Vậy, sự khác nhau giữa giọng kịch tính thuần với các loại giọng khác ở đâu?
1. Âm sắc giọng là sự khác biệt rõ nhất. Giọng kịch tính thuần có âm sắc hơi lạnh, tối, dày, nặng, chắc, đanh và đậm tính sử thi, hùng tráng, thích hợp để thể hiện các vai nữ anh hùng, nữ thần trong thần thoại, khác với kiểu vai phu nhân, góa phụ, thiếu nữ…
Hơn nữa, âm lượng của giọng kịch tính là sự nhất quán, bao trùm và xuyên suốt. Đó là giọng hát to tự nhiên, nhất quán với âm sắc giọng, bao trùm ở các quãng âm họ hát, không phải kiểu cố gồng lên cho thật to trong chớp nhoáng rồi tắt.
Có thể so sánh Eb6 “được cho” là to nhất lịch sử Opera của Maria Callas với B5 hoặc A5 “được cho” là to nhất lịch sử của Kirsten Flagstad để thấy sự khác nhau giữa một bên dùng hết sức để tung ra một note đầy nội lực và một bên hát tà tà giữ sức, dù hát to khổng lồ nhưng vẫn bình thản.
2. Sự khác biệt lớn nhất ở giọng kịch tính thuần so với những loại giọng khác là sức bền, sức chịu đựng lâu dài của giọng.
Opera của Wagner thường diễn ra trong thời gian rất dài, trung bình 4 giờ đồng hồ cho một vở. Điển hình như bộ 4 vở opera Der Ring des Nibelungen nếu hoàn thành phải mất 15 giờ đồng hồ. Chỉ riêng vở Gotterdammerung đã kéo dài tới 5 giờ đồng hồ, trong đó, lượng thời gian nhân vật Brunhilde (vai nữ chính dành cho nữ cao kịch tính) xuất hiện chiếm không nhỏ, và càng về cuối lại càng cần đẩy lên kịch tính. Hay như vai Gurnemanz trong vở Parsifal, phải hết nửa già màn I (tầm gần 1 tiếng) nhân vật nữ chính đứng trên sân khấu để chống chọi dàn nhạc. Thêm một điều nữa, Wagner có quan niệm rất tiêu cực khi coi giọng hát chỉ như một loại nhạc cụ, phải khai thác triệt để. Bởi thế, opera của Wagner thường được ví như "cỗ máy chém" với giọng hát, vì biên chế dàn nhạc của ông khá đồ sộ, trên dưới 100 nhạc công, với nhiều bộ nhạc cụ bằng đồng (loại nhạc cụ cho âm lượng lớn), ca sĩ buộc phải hát thật to nếu không muốn bị áp đảo bởi dàn nhạc.
Những giọng kịch tính xịn xò và được đào tạo đúng cách như Nilsson hay Flagstad được khâm phục ở việc hát Wagner trong suốt sự nghiệp vài chục năm mà không hề hỏng giọng. Nilsson gần 60 tuổi vẫn hát Wagner ầm ầm. Trong khi đó, nhiều ca sĩ cũng hát Wagner nhưng chỉ vài năm là hư giọng. Giọng hát của họ không đủ sức bền để theo đuổi kịch mục này. Đó là sự khác nhau giữa một bên “hát to” cả sự nghiệp và một bên “hát to” trong một vài khoảnh khắc nhất định bằng việc dùng hết sức bình sinh.
3. Trong tổng phổ nhạc ở kịch mục của giọng kịch tính như Wagner hay Strauss không có note nào là note Eb6 nên đừng bắt giọng kịch tính phải lên tới tận Eb6 to đùng để nhạc trưởng gõ cho to đầu nhé các bạn.
Long Phạm
Trang web âm nhạc cộng đồng. Hỗ trợ chúng tôi qua tài khoản: 178204122, ngân hàng VP Bank. Rất biết ơn nếu được hỗ trợ.
Không có gì để nghi ngờ vị trí độc tôn của Birgit Nilsson với những vở opera Wagner và Richard Strauss vào thập niên 60 và đầu 70, giống như Joan Sutherland ở mảng coloratura vậy. Cả hai người Birgit Nilsson và Kirsten Flagstad đã thống trị mảng âm nhạc kịch tính này trong suốt những năm từ 1935 đến 1980, đến nỗi những bản ghi âm mà họ để lại đã trở thành chuẩn mực cho những ca sĩ thế hệ sau – “how Wagner should be sung” (Opera của Wagner phải được hát như vậy) là những cụm từ thường gặp trong những bài đánh giá của các nhà phê bình âm nhạc khi nhắc đến Birgit Nilsson và Kirsten Flagstad.
Hôm nay mình sẽ đi sâu vào giọng hát của Nilsson để những fan của bà biết rõ tại sao giọng hát của Nilsson lại được nhắc đến như một “giọng ca thế kỉ” không hề kém cạnh Joan Sutherland hay Maria Callas, dù Nilsson không hề đi theo Bel Canto, cũng không hề thực hiện được các kỹ thuật màu sắc hoa mỹ.
Đôi dòng về cuộc đời và sự nghiệp của Nilsson: Bà sinh ra ở Thụy Điển trong một nhà làm nông. Ngay từ nhỏ bà đã bộc lộ năng khiếu ca hát và bản thân bà cũng thú nhận bà đã có một cảm giác về tông nhạc rất tốt ngay từ khi sinh ra. Tuy cha bà muốn bà kế nghiệp và quản lí trang trại, mẹ bà lại nhận thấy giọng hát tuyệt vời của cô con gái và khuyến khích bà phát triển tài năng của mình. Sự nghiệp của Nilsson nằm ở những vở opera được cho là “hành hạ” giọng hát: Bộ Ring của Wagner với vai Brunnhilde (Covent Garden – 1957) – Tristan và Isolde của Wagner với vai Isolde (MET 1959) – Elektra của Richard Strauss và Turandot của Puccini.
Về giọng hát của Nilsson, dễ dàng thấy được rằng loại giọng của bà là Wagnerian soprano (nữ cao siêu kịch tính) với quãng giọng F3 – C#6:
Giọng hát của Nilsson đã và sẽ luôn luôn là một trường hợp đặc biệt, một hiện tượng hiếm có của opera. Không những có âm lượng khổng lồ xuyên thấu nổi trội những dàn nhạc khủng bố của Wagner với sự dễ dàng khó tin, giọng hát của Nilsson còn có một âm sắc thuần khiết cho phép bà nhả những đường pianissimo nhẹ nhàng đầy trữ tình (dù không dám đọ với những bậc thầy như Caballe) điển hình là ở vở Tosca.
Một khi đã quen thuộc với giọng hát của Nilsson bạn có thể thấy nó giống như sức mạnh của tự nhiên hơn là một giọng hát. Những nốt cao như những nhát chém của thanh đại đao, sự vững chải trải dài trên quãng giọng rộng hơn 2 octave, khả năng điều khiển hơi thở cho phép bà ngân những nốt cao gần như vô tận, độ vang lớn khác thường xuyên thấu cả tường nhà hát (một nốt C6 trong vở Turandot dựng tại Arena di Verona đã làm cho những người dân quanh nhà hát tưởng là có còi báo động) … nhưng trên hết âm sắc đầy đặn vững chắc ở quãng trung và sáng quắc, đầy chất thép ở quãng cao chính là điều làm cho giọng hát Nilsson thực sự đặc biệt.
Khi so sánh với những giọng nữ cao kịch tính hay siêu kịch tính khác, ta có thể nhận ra những giọng hát đặc quánh, tối và sâu như những mezzo (rất nhiều nữ cao kịch tính là từ mezzo phát triển lên). Họ có thể lên những nốt cao rất to, rất kịch tính mãnh liệt nhưng sự thư thái, dễ dàng và đầy dứt khoát của Nilsson hay Flagstad là điều mà không ai có thể so sánh được.
Nói như vậy không có nghĩa là giọng hát của Nilsson không có khuyết điểm. Chính Nilsson đã thừa nhận loại giọng của mình không phù hợp với opera Ý với những giai điệu đẹp, những đường legato mượt mà. Quãng trầm dù tối và đầy sức nặng nhưng cũng không phải là thế mạnh của bà.
Kĩ thuật của Nilsson – tập trung ở mảng kịch tính chứ không hướng về bel canto như Callas hay Sutherland. Nilsson đã từng học tại học viện âm nhạc ở Stockholm nhưng những giáo viên ở đó đã không thể dạy được cho Nilsson điều gì như bà kể lại “Người giáo viên đầu tiên dường như đã giết chết giọng hát của tôi – và người thứ hai thì cũng gần như vậy. Người thầy tốt nhất là
sân khấu – khi bước lên sân khấu bạn sẽ biết bạn phải làm gì.” Tuy kĩ thuật tập trung ở phần kịch tính nhưng Nilsson luôn tập luyện để giúp cho giọng hát của mình linh hoạt và mềm mại hơn (dù kết quả không biết có khả quan không). Oren Brown đã từng viết trong sách dạy thanh nhạc của ông rằng Nilsson thưởng khởi động giọng hát của mình bằng cách hát aria Queen of the night của Mozart.
Và Nilsson cũng đã nhắc đến việc bà thích hát những vai lyrico-spinto như Aida, Macbeth, Tosca … hơn là những vai thuần kịch tính như Elektra hay Turandot.
“Tôi dùng những màu sắc giọng hát khác nhau phụ thuộc vào tôi đang hát cái gì. Sử dụng đúng giọng hát cho đúng vai cần rất nhiều thời gian luyện tập và nghiên cứu, và bây h thì giọng tôi nó tự động hát thôi. Tôi thích hát Verdi để giữ cho giọng hát mềm mại. Nếu tôi chỉ tập trung vào Wagner và Strauss không thì tôi sẽ mất điều đó mất".
Kĩ thuật đóng một vai trò quan trọng nhưng ngoại hình – cấu trúc vòm họng, xoang mặt và cơ thể của Nilsson có lẽ mới là điều quan trọng nhất làm cho giọng hát của Nilsson đặc biệt đến như vậy – đến nỗi mà Nilsson được đánh giá là có thể trạng “chuẩn” để hát nhạc Wagner.
Không nên quên rằng cả hai người Nilsson và Flagstag đều là người Bắc Âu, Scandinavi (Nilsson quê ở Thụy Điển và Flagstad quê ở Na Uy). Ta có thể thấy rất nhiều sự tương đồng trong giọng hát của hai người này (sẽ có một bài so sánh cụ thể hơn về 2 giọng ca này).
Nilsson không cao, không phải kiểu đồ sộ 1m87 như Joan với cái đầu “bằng hai lần Marilyn Horne” như Horne đã nói đùa, nhưng Nilsson là một người có thể trạng rắn chắc cứng cỏi.
Là một người Thụy Điển, gương mặt của Nilsson rộng và gò mà rất cao đã vô tình tạo nên những xoang cộng hưởng lớn khác thường. Bên cạnh đó Nilsson còn là con của một nhà nông.
Những tháng ngày nhặt khoai tây rau củ đã giúp Nilsson tăng cường sức khỏe và làm cho vùng lưng của mình rắn chắc (những việc này vô tình gia tăng sự dẻo dai bền bỉ của giọng hát Nilsson và cả buồng phổi khồng lồ - việc mà Caballe đã tập bằng cách chạy điền kinh).
Nhìn chung, tài năng bẩm sinh, thể trạng lí tưởng cộng với sự thông minh cần cù … là những lý do làm cho giọng hát của Nilsson có thể vượt khoảng cách thời gian và không gian để trở thành chuẩn mực cho opera của Wagner. “Cơn lốc của âm thanh, cuồn cuộn, hoàn toàn vững chắc và thuần khiết như nguồn năng lượng của tự nhiên” – đó là điều mà chắc chắn những người hâm mộ Nilsson có thể chắc chắn khi nhắc đến bà.
Long Phạm
Trang web âm nhạc cộng đồng. Hỗ trợ chúng tôi qua tài khoản: 178204122, ngân hàng VP Bank. Rất biết ơn nếu được hỗ trợ.