Thứ Ba, 23 tháng 1, 2024

Kirsten Flagstad: Nữ thần sử thi của nền âm nhạc cổ điển thế giới

 Huyền thoại Opera của vùng đất Na Uy

Kirsten Flagstad sinh năm 1885 tại Nauy, trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Cha bà là một nhạc trưởng có tiếng ở Na Uy thời bấy giờ còn mẹ là một nhạc công đệm đàn piano. Ngay từ nhỏ Flagstad đã được mẹ dạy hát, và tiếp tục được gửi đến Oslo học hát với Ellen Schytte Jacobsen, một giảng viên thanh nhạc là bạn thân của mẹ.

Ngay sau đấy Flagstad lại được học với Albert Westwang. Ông đã cố gắng hướng Flagstad đến với âm nhạc Wagner. Như vậy, ngay từ nhỏ, Flagstad đã sớm được tiếp xúc và rèn luyện để hát Opera, như một cách ăn sâu âm nhạc vào máu thịt.

Kirsten Flagstad: Nữ thần sử thi của nền âm nhạc cổ điển thế giới - Ảnh 1.

Trước khi đạt đỉnh cao sự nghiệp, Flagstad đã nhiều lần thất bại vì hát những vở Opera không đúng loại giọng. Trong những năm tháng đầu sự nghiệp, Flagstad hát khá nhiều vai, từ những vai operetta của Đức và Na Uy, đến những vai spinto của Verdi như Amelia trong Un Ballo maschera, Desdemona trong Otellovà một số vai verismo của Puccini. Bà thậm chí còn tham gia biểu diễn trong những vở opera thời kỳ Baroque của Handel.

Nhiều nhà phê bình âm nhạc cho rằng chất giọng kịch tính của bà không thực sự phù hợp những vai diễn ấy. Và chỉ đến khi tìm tới những vai Opera nặng đô, Flagstad mới thực sự phát huy sức mạnh của mình.

Nhờ đó, bà có một sự nghiệp Opera phát triển rực rỡ khắp thế giới. Chính Flagstad đã là người cứu nhà hát Metropolitan vượt qua cơn khủng hoảng tài chính trầm trọng trong giai đoạn sau 1935 nhờ vào danh tiếng của mình.

Flagstad qua đời tại Oslo vì bệnh ung thư tuỷ, hưởng dương 67 tuổi. Đất nước Na Uy tôn vinh một tài năng xuất sắc của dân tộc, bên cạnh các vĩ nhân trong lĩnh vực nghệ thuật.

Chính phủ Na Uy cũng quyết định lấy chân dung của bà in trên đồng 100 kroner của hệ thống tiền tệ Na Uy. Người dân Na Uy nhớ tới bà như một người từng được xưng tụng là Giọng ca của thế kỷ, Nữ hoàng của các ca sĩ, hay Ca sĩ Wagnerian vĩ đại nhất trong lịch sử. Chính tài năng và sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật đã làm cho tên tuổi của bà trở thành bất hủ trong lịch sử Opera.

Tầm ảnh hưởng và đóng góp của bà lớn tới mức chính phủ Nauy đã in hình bà lên máy bay của hãng hàng không nước này. Nói cách khác, tên tuổi Flagstad thực sự đã vươn tới tầm văn hóa, lịch sử chứ không đơn giản là một ca sĩ.

Kirsten Flagstad: Nữ thần sử thi của nền âm nhạc cổ điển thế giới - Ảnh 2.

Giọng hát mang tính sử thi của một nữ thần

Nền nhạc Opera và cổ điển thế giới từng chứng kiến sự xuất hiện của nhiều giọng hát xuất chúng như giọng toàn năng Maria Callas, giọng nữ cao màu sắc Joan Sutherland, giọng falcon soprano Shirley Verrett, giọng spinto đẹp mê li Renata Tebaldi… Nhưng nếu để chọn ra một giọng nữ gần nhất với chữ Diva (nữ thần) thì chỉ có thể là Kirsten Flagstad.

Gốc gác của Flagstad là người Bắc Âu thuần chủng (chính là chủng tộc Viking khét tiếng trong lịch sử). Đây là chủng tộc người có cơ địa và thể trạng cực kỳ phát triển, buồng phổi lớn và phần cơ bắp, khung xương bẩm sinh vượt trội. Chưa kể, việc sinh sống từ nhỏ ở xứ lạnh giúp người Bắc Âu có sức chống chọi cực tốt, dẻo dai và bền bỉ, thể lực mạnh mẽ.

Từ cơ địa vượt trội này đã sinh ra những giọng kịch tính thuần (loại giọng hiếm mà châu Á chưa từng xuất hiện). Trong đó, nữ cao kịch tính là loại giọng được ưa chuộng trong Opera vì thế mạnh cực đại khi lên quãng cao, đủ sức lấp đầy một nhà hát lớn với dàn nhạc đồ sộ phía sau mà không cần dùng micro.

Cần nói qua về giọng nữ cao kịch tính. Đây là loại giọng đặc biệt, đảm nhiệm vai chính trong dòng Opera nặng đô nhất của Wagner, Strauss – được ví như cỗ máy chém giọng, nỗi khiếp sợ của các giọng nữ thông thường. Loại giọng này có quãng trung và cận cao dày, lên cao phát huy tối đa âm lượng khổng lồ, xuyên thấu không gian, cắt được dàn nhạc. Âm sắc giọng nữ cao kịch tính thường đanh, dày, nặng, chắc và khi tung hết sức thì cuồn cuộn như vũ bão. Đây cũng là loại giọng có sức bền lớn nhất, có thể hát trường kỳ với cường độ mạnh mà không lo mất giọng.

Kirsten Flagstad: Nữ thần sử thi của nền âm nhạc cổ điển thế giới - Ảnh 3.

Cụ thể, với nội dung về thần thoại, sử thi trường kì nên Opera của Wagner thường diễn ra trong thời gian rất dài, trung bình 4 giờ đồng hồ cho một vở. Chẳng hạn, bộ 4 vở opera Der Ring des Nibelungen nếu hoàn thành phải mất 15 giờ đồng hồ.

Trong đó, chỉ riêng vở Gotterdammerung đã kéo dài tới 5 giờ đồng hồ. Lượng thời gian nhân vật Brunhilde (vai nữ chính dành cho nữ cao kịch tính) xuất hiện chiếm không nhỏ, và càng về cuối lại càng cần đẩy lên kịch tính.

Hay như vai Gurnemanz trong vở Parsifal đòi hỏi đến nửa già màn I (tầm gần 1 tiếng) nhân vật nữ chính phải đứng trên sân khấu để chống chọi dàn nhạc mà không được phép dùng micro.

Thứ hai, vì muốn tạo ra âm hưởng sử thi, hùng tráng nên biên chế dàn nhạc của Wagner khá đồ sộ, trên dưới 100 nhạc công, với nhiều bộ nhạc cụ bằng đồng (loại nhạc cụ cho âm lượng cực lớn). Ca sĩ buộc phải hát thật to nếu không muốn bị áp đảo bởi dàn nhạc.

Nếu không có chất giọng to khỏe vượt trội bẩm sinh và sức khỏe bền bỉ, ca sĩ sẽ không thể hát không micro liên tục trong thời gian dài với cường độ âm lượng lớn để đối đầu với dàn nhạc khổng lồ phía sau.

Mặt khác, dù hát với âm lượng cực lớn, nhưng ca sĩ vẫn phải giữ được sự tự nhiên của giọng hát và tỏ ra thoải mái, chứ không phải kiểu cố rướn lên cho thật to.

Trên thực tế, có nhiều ca sĩ Opera dù có kĩ thuật thượng thừa, nhưng vì cố gắng hát những vai kịch tính trong nhiều năm (trong khi nó không thuộc loại giọng bẩm sinh của họ), nên giọng hát đã bị tàn phá nặng nề, phải nghỉ hưu sớm, điển hình như Beverly Sills, Katia Ricciarelli, Giuseppe di Stefano...

Kirsten Flagstad: Nữ thần sử thi của nền âm nhạc cổ điển thế giới - Ảnh 4.

Diva huyền thoại nước Úc Nellie Melba từng liều mình thử một lần hát vai Brunhilde của Wagner. Điều này khiến thanh đới của bà bị hư tổn và phải tĩnh dưỡng nhiều tháng. Giọng hát của bà sau đó cũng không còn giữ được vẻ đẹp trong trẻo như trước.

Hay, Astrid Varnay dù là một Wagnerian soprano nổi bật trong những năm 40, 50, nhưng vì không khai thác đúng giọng hát của mình mà ép nó phải chống chọi với Opera Wagner quá nhiều nên cũng xuống giọng khi ngoài 40 tuổi.

Bởi vậy, chỉ có những giọng kịch tính bẩm sinh được đào tạo bài bản theo đúng thời gian mới dám hát nhạc Wagner hay Strauss.

Thực tế, có một số giọng nữ cao kịch tính nổi tiếng ở sân khấu Opera như Birgit Nilsson, Gwyneth Jones, Ghena Dimitrova… Nhưng đạt tới đỉnh cao đầu tiên là Kirsten Flagstard.

Khác với những giọng nữ cao kịch tính còn lại, giọng hát của Flagstard đặc biệt, độc đáo hơn cả vì có âm sắc đầy đặn, ấm áp hơi hướm của một giọng trữ tình. Nếu nghe Flagstad hát một số aria trữ tình, không ai tin được giọng kịch tính lại ngọt ngào, mềm mại đến thế.

Nhưng Flagstad cũng chính là giọng nữ cao kịch tính nhất trong các giọng kịch tính. Theo nhiều nhận định từ khán giả cùng thời, Flagstad là người có âm lượng giọng lớn nhất trong các giọng kịch tính, vượt cả Birgit Nilsson hay Dimitrova. Giọng hát của bà lớn tới mức dù áp đảo cả dàn nhạc nhưng nghe vẫn rất thoải mái, không hề gắng sức hay có cảm giác đang tung hết mình. Chưa bao giờ khán giả thấy Flagstad tung hết sức để hát, lúc nào cũng tà tà nhưng vẫn lấp đầy nhà hát.

Xét trong các giọng nữ cao kịch tính, âm sắc giọng của Flagstad được đánh giá là đẹp nhất vì không hề chói gắt hay tối, thô như các ca sĩ khác. Nhưng điều tuyệt vời hơn cả là trong giọng hát ấy có tính sử thi điển hình. Những cú A5, B5 full voice của bà lồng lộng, vững chãi và hào sảng, long lanh như một nữ thần bước ra từ thần thoại, sử thi. Đó là lý do vì sao bà được xem là giọng hát gần với chữ Diva (nữ thần) nhất.

Để làm được điều này, ngoài chất giọng bẩm sinh, Flagstad còn sở hữu kỹ thuật cộng hưởng âm thanh đặc biệt. Bà không hát phóng ra trước mặt như nhiều giọng nữ khác mà thả âm thanh bao trùm vùng đầu rồi bay lên trên, từ không gian bên trên vang trùm xuống rồi tỏa ra xung quanh. Kỹ thuật này cực kỳ khó, mà ngày nay không còn ai thực hiện được đẹp như Flagstad.

Bản thân Flagtad cũng phải khổ luyện rất nhiều mới có được giọng hát trác tuyệt như vậy. Khi Flagstad lần đầu tiên thử giọng cho tiến sĩ Gillis Bratt vào năm 1916, ông cho rằng bà bị hụt giọng do chưa phát huy hết giọng hát. Sau khi nghe Flagstad thử giọng trong phòng thu ở Stockholm, tiến sĩ Bratt nói thẳng rằng giọng hát bà như một đứa trẻ và không ai có thể nghe thấy bà trong nhà hát Opera.

Kirsten Flagstad: Nữ thần sử thi của nền âm nhạc cổ điển thế giới - Ảnh 5.

Dù cảm thấy chạnh lòng, nhưng Flagstad vẫn quyết định làm việc cùng tiến sĩ Bratt hai lần một tuần trong năm đó. Sau 3 tháng, giọng hát của bà đã to gấp đôi so với trước.

Bà cảm thấy cổ họng được giải phóng và kết nối với cơ thể nhiều hơn. Sau này, Flagstad thường nói về sự kết nối cơ thể của mình và cảm giác hát từ cơ lưng đến cơ hoành chứ mà không phải hát ở cổ họng. Nói cách khác, Flagstad học được kỹ thuật hát bằng cả cơ thể, kết hợp các khối cơ, vị trí trên cơ thể để cộng hưởng sức mạnh âm thanh chứ không chỉ dựa vào cổ họng. Có lẽ đây là kỹ thuật đặc biệt giúp Flagstad giải phóng được giọng hát khổng lồ của mình để hát trường kỳ trong suốt cuộc đời.

Ngoài ra, Flagstad còn là một trong số ít những soprano kịch tính không bị hỏng giọng và duy trì được chất giọng tốt đến cuối sự nghiệp biểu diễn. Tới tận ngoài 60 tuổi, bà vẫn hát rất đẹp và lộng lẫy. Giọng nữ cao màu sắc huyền thoại Joan Sutherland coi Flagstad là thần tượng lớn nhất của mình và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bà.

Long Phạm

Birgit Nilsson: Giọng hát khổng lồ, hiếm có bậc nhất lịch sử Opera thế giới

 Cơn lốc của âm thanh, cuồn cuộn, hoàn toàn vững chắc và thuần khiết như nguồn năng lượng của tự nhiên, đó là điều mà chắc chắn những người hâm mộ Birgit Nilsson có thể chắc chắn khi nhắc đến bà.

Opera kịch tính – cỗ máy chém giọng không dành cho giọng hát thường

Opera là cả một kho tàng âm nhạc hàn lâm. Trong suốt lịch sử vài trăm năm, đã có vô số giọng hát kỳ vĩ xuất hiện sáng rực trên bầu trời Opera. Nhưng để nói hiếm có bậc nhất phải kể đến cái tên Birgit Nilsson – giọng nữ cao siêu kịch tính từng thống trị trường phái Opera Wagner suốt nửa sau thế kỷ XX.

Birgit Nilsson sinh năm 1918 ở Thụy Điển trong một nhà làm nông. Ngay từ nhỏ, Nilsson đã bộc lộ năng khiếu ca hát và chính bà cũng thú nhận bản thân có một cảm giác về tông nhạc rất tốt ngay từ khi sinh ra. Cha Nilsson muốn bà kế nghiệp và quản lí trang trại nhưng mẹ bà lại nhận thấy giọng hát tuyệt vời của cô con gái và khuyến khích bà phát triển tài năng.

Sự nghiệp của Nilsson nằm ở những vở Opera được cho là "cỗ máy chém" giọng hát: Bộ Ring của Wagner với vai Brunnhilde (Covent Garden – 1957) – Tristan và Isolde của Wagner với vai Isolde (MET 1959) – Elektra của Richard Strauss và Turandot của Puccini.

Birgit Nilsson: Giọng hát khổng lồ, hiếm có bậc nhất lịch sử Opera thế giới - Ảnh 1.

Birgit Nilsson

Cần nói qua về Opera của hai nhà soạn nhạc vĩ đại Wagner và Strauss. Đây là một trường phái Opera riêng khác với các dòng Opera khác, với nội dung sử thi, anh hùng nên kéo dài cả chục tiếng, với dàn nhạc khổng lồ biên chế lên tới hàng trăm nhạc công, lại chủ yếu là kèn đồng (loại nhạc cụ âm lượng lớn). Vì vậy, ca sĩ hát được Opera loại này phải sở hữu giọng kịch tính. Loại giọng này cực hiếm và không có ở châu Á. Nhiều ca sĩ từng mất giọng vì thử hát Opera loại này.

Không có gì để nghi ngờ vị trí độc tôn của Birgit Nilsson với những vở Opera Wagner và Richard Strauss vào thập niên 60 và đầu 70. Hai giọng Dramatic Soprano đình đám Birgit Nilsson và Kirsten Flagstad đã thống trị mảng âm nhạc kịch tính này trong suốt những năm từ 1935 đến 1980. Những bản ghi âm họ để lại đã trở thành chuẩn mực cho những ca sĩ thế hệ sau.

Riêng Birgit Nilsson thường được nhắc đến như một "giọng ca thế kỉ" không hề kém cạnh Joan Sutherland hay Maria Callas, dù bà không đi theo nghệ thuật Bel Canto, cũng không hề thực hiện được các kỹ thuật màu sắc hoa mỹ.

Giọng hát của Birgit Nilsson bẩm sinh thuộc loại giọng nữ cao siêu kịch tính (Wagner Soprano) – một loại giọng hiếm. Nhưng ngay ở chính loại giọng này, Nilsson vẫn là duy nhất và hiếm tới mức không ai chạm tới được.

Giọng hát hiếm có bậc nhất và kỹ thuật đỉnh cao của Birgit Nilsson

Giọng hát của Nilsson đã và sẽ luôn luôn là một trường hợp đặc biệt, một hiện tượng hiếm có của opera. Không chỉ mang âm lượng khổng lồ xuyên thấu, nổi trội trên những dàn nhạc khủng bố của Wagner một cách dễ dàng, giọng hát của Nilsson còn có một âm sắc thuần khiết, cho phép bà nhả những đường pianissimo nhẹ nhàng đầy trữ tình.

Giọng Nilsson được cho là quá sáng nên hơi khó nghe, nhưng một khi đã quen thuộc với giọng hát ấy, người ta sẽ thấy nó giống như sức mạnh của tự nhiên hơn là tiếng hát con người.

Birgit Nilsson: Giọng hát khổng lồ, hiếm có bậc nhất lịch sử Opera thế giới - Ảnh 2.

Ở giọng hát ấy là những nốt cao như nhát chém của thanh đại đao, cùng sự vững chãi trải dài trên quãng giọng rộng hơn 2 quãng tám. Khả năng điều khiển hơi thở cho phép Nilsson ngân những nốt cao gần như vô tận, với độ vang lớn khác thường xuyên thấu cả tường nhà hát.

Từng có một giai thoại kể rằng, khi Nilsson hát vở Turandot dựng tại Arena di Verona, bà đã tung một note C6 khổng lồ, khiến người dân quanh nhà hát tưởng có còi báo động. Tuy nhiên, ngoài âm lượng lớn, nội lực kinh người thì âm sắc đầy đặn, vững chắc ở quãng trung và sáng quắc, đầy chất thép ở quãng cao chính là điều làm cho giọng hát Nilsson thực sự đặc biệt.

Đa số những giọng nữ cao kịch tính khác thường có âm sắc đặc quánh, tối và sâu như những mezzo (rất nhiều nữ cao kịch tính là từ mezzo phát triển lên). Họ có thể lên những nốt cao rất to, kịch tính mãnh liệt nhưng để đạt tới sự thư thái, dễ dàng và đầy dứt khoát của Nilsson hay Flagstad thì gần như không ai làm được.

Nói như vậy không có nghĩa là giọng hát của Nilsson không có khuyết điểm. Chính Nilsson đã thừa nhận loại giọng của mình không phù hợp với opera Ý, đòi hỏi những giai điệu đẹp, các đường legato mượt mà. Quãng trầm dù tối và đầy sức nặng nhưng cũng không phải là thế mạnh của bà.

Vì vậy, kỹ thuật của Nilsson tập trung ở mảng kịch tính, không hướng về Bel Canto như các diva opera khác. Nilsson đã từng học tại học viện âm nhạc ở Stockholm nhưng những giáo viên ở đó đã không thể dạy được cho bà điều gì. Bà kể lại:

"Người giáo viên đầu tiên dường như đã giết chết giọng hát của tôi và người thứ hai thì cũng gần như vậy. Người thầy tốt nhất là sân khấu, khi bước lên sân khấu bạn sẽ biết bạn phải làm gì" (Nguồn: Nhaccodien.vn)

Tuy kĩ thuật tập trung ở phần kịch tính nhưng Nilsson luôn tập luyện để giúp cho giọng hát của mình linh hoạt và mềm mại hơn.

Giảng viên Oren Brown đã từng viết trong sách dạy thanh nhạc của ông rằng Nilsson thưởng khởi động giọng hát của mình bằng cách hát aria Queen of the night của Mozart.

Bản thân Nilsson cũng đã nhắc đến việc bà thích hát những vai lyrico hay spinto như Aida, Macbeth, Tosca … hơn là những vai thuần kịch tính như Elektra hay Turandot. Bà nói:

"Tôi dùng những màu sắc giọng hát khác nhau phụ thuộc vào tôi đang hát cái gì. Sử dụng đúng giọng hát cho đúng vai cần rất nhiều thời gian luyện tập và nghiên cứu, và bây giờ thì giọng tôi nó tự động hát thôi.

Birgit Nilsson: Giọng hát khổng lồ, hiếm có bậc nhất lịch sử Opera thế giới - Ảnh 3.

Tôi thích hát Verdi để giữ cho giọng hát mềm mại. Nếu tôi chỉ tập trung vào Wagner và Strauss không thì tôi sẽ mất điều đó mất". (Nguồn: Nhaccodien.vn)

Thể trạng độc đáo làm nên vĩ nhân trong âm nhạc

Kĩ thuật đóng một vai trò quan trọng nhưng ngoại hình, cấu trúc vòm họng, xoang mặt và cơ thể của Nilsson có lẽ mới là điều quan trọng nhất làm cho giọng hát của Nilsson đặc biệt đến như vậy. Nilsson thậm chí được đánh giá là có thể trạng "chuẩn" để hát nhạc siêu kịch tính Wagner.

Nilsson sinh ra ở Thụy Điển (Bắc Âu), sở hữu bộ gen chủng tộc Viking cực khỏe, nội lực và sống tại xứ lạnh nên khả năng chống chọi cũng vượt trội. Nilsson không cao, không phải kiểu đồ sộ khổng lồ, cao tới1m87 như Joan Sutherland (nữ cao màu sắc kịch tính danh tiếng), nhưng bà là một người có thể trạng rắn chắc cứng cỏi.

Gương mặt của Nilsson rộng và gò mà rất cao. Điều này đã vô tình tạo nên những xoang cộng hưởng lớn khác thường. Bên cạnh đó Nilsson còn là con của một nhà nông.

Birgit Nilsson: Giọng hát khổng lồ, hiếm có bậc nhất lịch sử Opera thế giới - Ảnh 4.

Những tháng ngày nhặt khoai tây rau củ đã giúp Nilsson tăng cường sức khỏe và làm cho vùng lưng của mình rắn chắc. Những công việc tưởng chừng không liên quan này lại vô tình gia tăng sự dẻo dai bền bỉ của giọng hát Nilsson và cả buồng phổi khồng lồ của bà.

Nhìn chung, tài năng bẩm sinh, thể trạng lí tưởng cộng với sự thông minh cần cù là những lý do giúp  giọng hát của Nilsson có thể vượt khoảng cách thời gian và không gian để trở thành chuẩn mực cho Opera của Wagner – thứ âm nhạc được mệnh danh là "cỗ máy chém giọng" ca sĩ.

Cơn lốc của âm thanh, cuồn cuộn, hoàn toàn vững chắc và thuần khiết như nguồn năng lượng của tự nhiên, đó là điều mà chắc chắn những người hâm mộ Nilsson có thể chắc chắn khi nhắc đến bà.

Long Phạm

Joan Sutherland: Giọng nữ cao màu sắc độc đáo, bậc thầy của nền Opera thế kỷ XX

 Nữ cao màu sắc là một loại giọng phổ biến trong Opera và nhạc cổ điển, trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Có rất nhiều giọng nữ cao màu sắc thành danh và nổi tiếng, với kỹ thuật điêu luyện, nhưng từ giới chuyên môn tới đông đảo khán giả đều phải thừa nhận, người đứng đầu và xuất sắc nhất trong thế kỷ XX chỉ có thể là Joan Sutherland.

Sự nghiệp lẫy lừng của bậc thầy nghệ thuật Bel Canto

Joan Sutherland sinh năm 1926 tại Úc, trong một gia đình bình dân với bố là thủy thủ viễn dương, tuy không giàu có nhưng kinh tế đầy đủ. Mẹ bà là một giọng nữ trung đầy đủ kỹ thuật, yêu ca hát và am hiểu nhạc lý nhưng lại không theo đuổi con đường ca hát chuyên nghiệp. Chính vì thế, bà đã dồn hết tâm huyết, tình yêu ca hát vào con gái mình. Bà thường ngồi đàn hát những ca khúc Bel Canto những lúc nhàn rỗi. Ngay từ nhỏ, Joan đã được tiếp xúc với âm nhạc như vậy, thường xuyên hát theo mẹ. Đây cũng là tiền đề để bà đến với nghệ thuật Bel Canto (nghệ thuật hát đẹp của Opera Ý) sau này.

Joan Sutherland: Giọng nữ cao màu sắc huyền thoại, bậc thầy của thế kỷ XX   - Ảnh 1.

Nhận ra năng khiếu bẩm sinh ở con gái, mẹ Joan đã truyền dạy lại cho bà toàn bộ kinh nghiệm, kỹ thuật ca hát cơ bản như lấy hơi, tìm vị trí âm thanh… Dù không thực sự đầy đủ nhưng nhờ đó mà Joan được tiếp xúc với thanh nhạc, ca hát từ sớm để chuẩn bị cho nghề nghiệp sau này.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Joan tham gia làm một số công việc văn phòng. Nhưng niềm đam mê ca hát đã thôi thúc bà đi thi một cuộc thi hát nhỏ. Với giọng hát thiên bẩm, Joan giành ngay giải nhất với phần thưởng là một suất học bổng của nhạc viện Sydney. Tại đây, Joan bắt đầu được đào tạo thanh nhạc bài bản dưới sự hướng dẫn của hai giảng viên John và Aida Dickens.

Joan bắt đầu sự nghiệp bằng việc hát trong dàn hợp xướng từ năm 1946. Tuy nhiên, giọng hát của bà quá to khỏe và vang một cách lạ lùng, luôn nổi hơn các thành viên khác nên được khuyên đi hát solo. Một năm sau, Joan được mời tham gia hát chính trong vở Dido của Purcell và sau đó là một số buổi hoà nhạc thính phòng nhỏ. Năm 1951, Joan lại nhận được xuất diễn chính trong vở Judith của Eugene Goossens.

Cũng trong năm ấy, Joan tham gia một cuộc thi hát lớn nhất nước Úc là Sun Aria Competition và ngay lập tức nhận học bổng tại trường Âm nhạc hoàng gia Royal Covent Garden, London, Anh. Tại đây, Joan khiến các giảng viên bất ngờ vì chất giọng to khỏe bẩm sinh của mình. Giảng viên kì cựu Clive Carey muốn bà phát triển thành nữ cao kịch tính chuyên hát Wagner. Bản thân Joan khá thích thú trước hướng đi này vì bà vốn thần tượng Kirsten Flagstad (huyền thoại nữ cao kịch tính Wagner). Joan muốn được trở thành Wagnerian như thần tượng của mình. Trong thời gian đầu sự nghiệp này, Joan chăm chỉ nhận hát các vai phụ làm nền cho những ngôi sao lớn trên sân khấu Opera để lấy kinh nghiệm.

Định mệnh xuất hiện khi Joan gặp và nảy sinh tình yêu với nhạc trưởng Richard Bonynge, người sau này cũng chính là chồng bà. Richard là người định hình rõ rệt và ảnh hưởng lớn nhất tới sự nghiệp của Joan. Ông chỉ dẫn bà rất nhiều bài học sâu sắc về kỹ thuật, cách hát, xử lý tác phẩm. Một trong những nhận định mang tính cách mạng của Richard về Joan là bà không phải giọng kịch tính như chính bà và mọi người vẫn nghĩ. Thay vào đó, Richard khẳng định rằng Joan là một nữ cao màu sắc. Chính vì thế, ông đã hướng dẫn bà tập luyện các kỹ thuật hát chuyên biệt của loại giọng này để hát được những vở Opera màu sắc.

Joan Sutherland: Giọng nữ cao màu sắc huyền thoại, bậc thầy của thế kỷ XX   - Ảnh 2.

Đặc biệt hơn cả, Richard còn có mối quan tâm mạnh mẽ tới trường phái Opera Bel Canto (vốn từng bị lãng quên trong thời kỳ đó) và muốn Joan đi theo trường phái này. Ông tìm hiểu rất kỹ và đích thân hướng dẫn Joan cách hát Bel Canto đúng chuẩn, bao gồm nhiều kỹ thuật khó như trillo, staccato, mezza di voce, legato…

Dưới sự hướng dẫn của chồng, Joan chuyển sang nghiên cứu, luyện tập những vai coloratura trong Opera Bel Canto và Opera Baroque. Có thể nói, Joan là một trong những ca sĩ nỗ lực và có ý chí nhất. Nhờ sự khổ luyện của mình, bà đã chuyển hẳn loại giọng từ kịch tính sang màu sắc, mở rộng âm vực và thực hiện được hàng loạt kỹ thuật hoa mỹ tinh xảo.

Năm 1959, Joan lần đầu đảm nhận một vai chính dành cho giọng màu sắc là Lucia trong vở Lucia di Lammermoor. Bà đã đốt cháy cả nhà hát bằng những note cao rực rỡ, khiến khán giả vỗ tay không ngớt. Joan đã đưa vai diễn này trở thành kinh điển của Opera, gắn với tên tuổi bà.

Một năm sau đó, Joan được mời thu âm album The art of Prima Donna. Bằng sự thể hiện tinh tế của mình, Joan đã đánh bay hoài nghi rằng những giọng hát âm lượng quá lớn như bà thì không hợp với phòng thu. Album được coi như một chuẩn mực đối với những giọng nữ cao màu sắc thế hệ sau và cũng là một trong những album best seller mọi thời đại.

Cùng năm đó, Joan lần đầu xuất hiện tại Ý (quê hương Opera) với vai Alcina (Handel) và khiến các khán giả khó tính nhất cũng phải kinh ngạc. Họ đặt cho bà biệt danh La Stupenda (tuyệt diệu) để thể hiện lòng ngưỡng mộ trước giọng hát vi diệu của bà.

Kể từ đó, Joan tiếp tục hát nhiều vai diễn khác và nổi tiếng khắp thế giới, gặt hái được nhiều thành công vang dội. Năm 1970, Sutherland lại làm nên một buổi biểu diễn lịch sử với vở Norma tại nhà hát Metropolitan (Mỹ). Điều đáng nói là Norma vốn là vai đóng đinh với tên tuổi huyền thoại Maria Callas và không ai nghĩ sẽ có người thay thế được bà.

Vậy nhưng Joan Sutherland đã khiến toàn bộ giới phê bình lẫn khán giả phải trầm trồ khi thể hiện Norma xuất sắc với một màu sắc khác hoàn toàn Callas. So với Callas, Joan đạt tới vẻ đẹp âm thanh lớn hơn, thực hiện các kỹ thuật hoa mỹ hoàn hảo hơn, cách thể hiện cũng khác. Norma là một vai khó và rất ít người vừa có thể diễn xuất vừa thể hiện những đoạn nhạc đòi hỏi kĩ thuật phức tạp của vai diễn, Sutherland không chỉ thể hiện xuất sắc Norma, bà thậm chí còn tự thêm vào nhiều đoạn biến tấu hoa mĩ một cách tinh tế, độc đáo. Chẳng hạn, ở aria Casta Diva, chính Joan đã thêm vào phần cuối một đoạn trillo siêu đẹp và ảnh hưởng tới nhiều ca sĩ sau này.

Joan Sutherland: Giọng nữ cao màu sắc huyền thoại, bậc thầy của thế kỷ XX   - Ảnh 3.

Có thể nói, Joan là một trong số ít nghệ sĩ có nhiều đóng góp lớn nhất với trường phái Opera Bel Canto. Nếu Maria Callas là người khai phá thành công nghệ thuật hát đẹp Bel Canto, đem nó trở lại với khán giả sau hàng thế kỷ ngủ quên thì Sutherland chính là người đưa nó đến đỉnh cao nhất trong Opera. Chính Callas khó tính đã từng thốt lên rằng: "Cô ấy đã bỏ sự nghiệp của tôi lại phía sau những 100 năm" (Nguồn: Nhaccodien).

Maria Callas và Joan Sutherland được xem như hai bậc thầy về Bel Canto song hành cùng nhau. Tuy nhiên, về các kỹ thuật màu sắc trên note cao, Joan còn vượt trội hơn Callas. Joan cũng được xếp thứ hai trong danh sách 20 soprano vĩ đại nhất thế kỷ XX, chỉ sau Maria Callas.

Nhưng trái với Callas, Joan là ngôi sao thân thiện và chịu khó nâng đỡ đồng nghiệp. Danh ca Pavarotti là một trong những đàn em được Joan dẫn dắt. Ông nói:

"Tôi vẫn còn nhớ rõ ràng những ngày đầu sự nghiệp của tôi, bà (Sutherland) đã mời tôi đến Australia cùng cộng tác. Tôi đã học được rất nhiều điều từ người phụ nữ đặc biệt, người ca sĩ tài năng này về giọng hát cũng như về kĩ năng sân khấu. Dường như đối với tôi, khi chúng tôi bên nhau trên sân khấu, đó là những phút giây tôi thực sự cảm thấy dễ chịu nhất" (Nguồn: Nhaccodien).

Với cống hiến to lớn, Joan đã được trao tặng nhiều giải thưởng, danh hiệu cao quí. Năm 1961 bà là người phụ nữ đầu tiên nhận được danh hiêu Australian of the Year (Người Australia của năm). Năm 1975 nhận giải thưởng Companion of the Order of Australia . Đêm giao thừa năm 1979, Joan được nữ hoàng Anh phong tước hiệu Dame. Bà cũng là một trong những nghệ sỹ hiếm hoi được trao tặng danh hiệu Order of Merit, danh hiệu cao quí nhất của Anh, rất hiếm khi được trao cho người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật.

Sau khi từ giã sân khấu, Joan thường tham gia các lớp giảng dạy master class để truyền thụ kiến thức cho nghệ sĩ trẻ. Bà cũng chú trọng việc phát triển các tài năng trẻ cho sân khấu Opera.

Giọng hát đặc biệt của một bậc thầy kỹ thuật hàng đầu, ít ai sánh kịp

Joan Sutherland không chỉ đơn thuần là một giọng nữ cao màu sắc, tiếng hát của bà còn vượt xa hơn thế rất nhiều. Bẩm sinh Joan là một giọng nữ kịch tính (không xác định được là nữ cao hay nữ trung), với âm lượng lớn, đanh, dày và tối. Giọng hát bẩm sinh của bà tối và dày tới mức chính bà và và mẹ bà đều nghĩ đó là giọng mezzo (nữ trung) chứ không phải nữ cao.

Tới khi học thanh nhạc, các giảng viên đều nhận định Joan là giọng nữ cao kịch tính. Nhưng tới khi gặp chồng mình là nhạc trưởng Richard, bà lại được rèn luyện để trở thành nữ cao màu sắc.

Joan Sutherland: Giọng nữ cao màu sắc huyền thoại, bậc thầy của thế kỷ XX   - Ảnh 4.

Đây là điều cực hiếm có xảy ra bởi tiêu chuẩn của nữ cao màu sắc là âm sắc giọng phải sáng, tessitura nằm trên âm vực cao chót vót. Trong khi đó, màu giọng bẩm sinh của Joan trước đó lại tối và dày, khó lên được note cao. Điều đó cho thấy, bà đã phải khổ luyện vô cùng để thay đổi được cả âm sắc lẫn quãng giọng của mình, phá vỡ mọi giới hạn. Tất nhiên, ngoài tập luyện vẫn là khả năng thiên phú trong cổ họng đặc biệt của Joan.

Chưa kể, việc là giọng kịch tính với âm lượng lớn bẩm sinh gần như không thích hợp để hát Bel Canto, đòi hỏi sự linh hoạt khi chạy note và điều khiển âm lượng to nhỏ liên tục. Các giọng kịch tính vì âm lượng quá to nên bị hạn chế về hơi thở cũng như sự linh hoạt.

Tuy nhiên, Joan đã đảo ngược mọi thứ và làm được điều không tưởng đó. Bà vẫn giữ được âm lượng lớn vốn có nhưng lại chạy note linh hoạt với hơi thở bất tận và hát nhỏ siêu mượt. Đây là điều mà gần như không giọng kịch tính nào làm được trừ Maria Callas.

Nhưng ngay cả Callas cũng không đạt đến âm thanh đẹp hoàn hảo khi hát màu sắc như Joan. Nếu ở Callas, người nghe khó tính hay giới chuyên môn đôi khi vẫn tìm ra một số lỗi kĩ thuật nhỏ thì ở Sutherland, dù có soi kĩ đến mấy cũng vẫn là một sự hoàn hảo đến không tưởng ở mọi note nhạc.

Nhờ sự khổ luyện bền bỉ, Joan và Callas đã khai sinh ra loại giọng nữ cao kịch tính màu sắc (dramatic coloratura soprano). Giọng màu sắc thông thường thì nhiều nhưng màu sắc kịch tính lại cực kỳ hiếm. Đặc biệt, một giọng màu sắc chỉ cần đạt dynamic của giọng spinto cũng đã được xem là kịch tính màu sắc nhưng Joan với Callas còn sở hữu dynamic của dramatic.

Trước khi Callas và Sutherland xuất hiện, đa số ca sĩ Opera hát theo giọng nữ cao trữ tình màu sắc (lirico coloratura soprano), tập trung chạy note hoa mỹ với âm lượng không quá lớn. Nhưng Callas và Sutherland đã tạo nên kỳ tích khi khai sinh ra loại giọng nữ cao kịch tính màu sắc.

Đây là loại giọng hiếm thấy, có thể chạy note linh hoạt, quãng rộng nhưng âm lượng lớn, màu giọng đanh, tạo được sự bùng nổ, bão táp cuồn cuộn trên quãng  cao, khuấy động cả nhà hát.

Bằng cách này, Callas và Sutherland đã thổi vào Opera một luồng sinh khí mới, đặt nền móng cho các giọng nữ cao khổ luyện để vươn thành kịch tính màu sắc, giúp khán giả được thưởng thức những màn trình diễn đỉnh cao.

Giống như Birgit Nilsson, xoang mặt của Joan rất lớn với các hốc vang bẩm sinh nên giọng bà rất vang, to, khỏe. Nhờ đó, khi lên cao, Joan vẫn giữ được độ dày của giọng hát và đạt âm lượng lớn một cách tự nhiên, thoải mái, không hề gắng gượng hay có sự chói gắt. Joan là một trong những ca sĩ hiếm hoi dù lên tới D6 vẫn êm như ru, bao trùm khắp không gian chứ không cắt xuyên như laser theo kiểu các giọng màu sắc khác, dù âm lượng cực lớn.

Bà cũng sở hữu kỹ thuật covered sound (đóng tiếng) đỉnh cao, với vùng cộng hưởng phía sau gáy chứ không phải đỉnh trán hay xoang mặt như nhiều ca sĩ khác. Vị trí cộng hưởng độc đáo này giúp Joan hát note cao âm lượng lớn, nổi trên dàn nhạc nhưng không lao thẳng ra trước mặt mà nổi khắp không gian, tỏa ra 4 phía, nghe rất đẹp, êm, đã tai.

Joan Sutherland: Giọng nữ cao màu sắc huyền thoại, bậc thầy của thế kỷ XX   - Ảnh 5.

Kỹ thuật trillo (rung láy) và staccato của Joan cũng đạt tới mức thượng thừa và được áp dụng đầy sáng tạo trong ca hát. Chẳng hạn, bà đã tự thêm những đoạn staccato sáng rực vào aria Sempre Libera hay trillo vào Casta Diva, tạo nên thần sắc mới cho hai ca khúc này. Đặc biệt, dù xuống thấp đến mấy, Joan vẫn dùng head voice chứ không chạm vào chest voice.

Joan hát rất chỉn chu, cẩn thận. Việc giữ gìn giọng hát giúp bà có một sự nghiệp dài hiếm thấy trong giới Opera. Gần 70 tuổi, Joan vẫn giữ được phong độ tốt, giọng hát đẹp và những kỹ thuật khó nhằn.

Long Phạm

Thái Thanh, Ngọc Lan, Thanh Lam: 3 nữ danh ca tạo nên trường phái riêng trong nhạc Việt như thế nào?

 Trường phái được định nghĩa là dòng nghệ thuật có khuynh hướng riêng. Rất nhiều ca sĩ nổi tiếng và có cá tính, phong cách, nhưng không phải ai cũng tạo được trường phái nhạc mang tên mình.

Để làm nên trường phái, ca sĩ phải dùng giọng hát để tạo một khuynh hướng, chất nhạc riêng, gắn với cả một giai đoạn, thời kì lịch sử và ảnh hưởng tới một số ca sĩ nhất định, khiến họ đi theo phong cách của mình. Trong lịch sử nhạc Việt, có ba nữ danh ca đã tạo nên được trường phái nhạc cho riêng mình.

Thái Thanh

Nhắc tới Thái Thanh là nhắc tới một huyền thoại âm nhạc. Hơn nửa thế kỉ cầm ca, Thái Thanh đã để lại một di sản âm nhạc đồ sộ, mà ít có ca sĩ nào dám kiêu hãnh vượt qua bà. Di sản đó trải dài từ dân ca tới tân ca, từ tiểu ca tới trường ca, từ tình ca, hoan ca, hùng ca tới tâm ca, bi ca, rồi cả đạo ca.... Nó bao quát, gắn chặt và thấu trọn cả một thời kì của nền tân nhạc dân tộc.

Thái Thanh, Ngọc Lan, Thanh Lam: 3 nữ danh ca tạo nên trường phái riêng trong nhạc Việt như thế nào? - Ảnh 1.

Thái Thanh

Có thể nói, Thái Thanh là một trong những ca sĩ đầu tiên và hiếm hoi đã góp phần công sức lớn lao vào công cuộc hình thành nền tân nhạc Việt Nam, được những đại nhạc sĩ huyền thoại như Văn Cao, Phạm Duy, Phạm Đình Chương yêu mến, xem là "con cưng" để "chọn mặt gửi vàng" thể hiện các tác phẩm nhạc thi bất hủ của họ.

Nói Thái Thanh là danh ca đầu tiên đã tạo nên trường phái nhạc của riêng mình quả không hề lộng ngôn vì bà là người tiên phong và thành công xuất sắc trong việc kết hợp giữa lối hát mở phương Tây với lối hát truyền thống của dân nhạc (tạm gọi là lối hát đóng) - cái mà đến ngày nay vẫn đang được giới chuyên môn nghiên cứu, giảng dạy, và được nhiều thế hệ ca sĩ áp dụng.

Rõ ràng, xét trong tiến trình âm nhạc Việt Nam, đây là một trường phái lớn được rất nhiều ca sĩ theo đuổi một cách tự giác hoặc không tự giác, mà Thái Thanh là người mở màn.

Chưa dừng lại ở đó, Thái Thanh còn biến trường phái của mình trở nên đặc trưng hơn, với lối hát "cường cảm" xưa nay hiếm, tức là cường độ biểu cảm rất lớn, nhất là bi cảm. Đi cùng với lối hát đó là sự ưa chuộng thể hiện ca khúc ở các quãng âm cao, với những kĩ thuật tinh tế của phương Tây như trillo (rung láy), messa voce (hát nửa giọng), kết hợp với các cách hát, nhả chữ, luyến láy đậm màu sắc dân ca phương Đông như bỏ nhỏ, hát bạch thanh, đổ hột...

Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên trường phái riêng của Thái Thanh, khiến người nghe có thể nhận ra bà ở bất cứ ca khúc nào. Trường phái này khá kén tai nghe, làm nhiều người không thích. Nhưng một khi đã nghe quen và thấm được cái "cường cảm" trong đó, thì khó mà dứt ra được.

Trường phái Thái Thanh là một trường phái độc đáo, mang theo nhiều vết tích lịch sử, nên luôn tạo ra "khí" khác lạ mỗi khi nghe nó, dù ở bất cứ không gian, thời gian nào.

Thực sự mà nói, trường phái Thái Thanh là một trường phái khó hát, khó cảm, nó đòi hỏi ca sĩ phải có kĩ thuật thanh nhạc vững chắc, chất giọng phù hợp, và trên hết là trải nghiệm, thẩm mỹ âm nhạc sâu sắc. Nhưng điều đó không có nghĩa là không ai dám theo đuổi nó. Sự thành công của những ca sĩ nổi tiếng chịu ảnh hưởng và đi theo trường phái Thái Thanh như Mai Hương, Quỳnh Giao, Ánh Tuyết, Ý Lan... đã chứng minh vị trí không phai mờ của nó trong trái tim khán giả cũng như ca sĩ.

Ngọc Lan

Ngọc Lan là trường hợp đặc biệt nhất, khi cô được đích thân nhạc sĩ Trần Thiện Thanh định danh cho trường phái của mình: "Ngọc Lan đã tạo ra một trường phái mang tên Ngọc Lan!".

Khác với các trường phái còn lại, trường phái Ngọc Lan không chỉ đến từ giọng hát, mà còn đến từ cả ngoại hình của cô, để mỗi khi nhắc đến trường phái này, người nghe lại liên tưởng tới một bóng hồng xinh đẹp, mềm mại, nữ tính. Và cũng thật lạ, khi ở Ngọc Lan, giọng hát lại có sự tương đồng hài hòa với ngoại hình, đều toát lên chút gì đó rụt rè, trong sáng, thánh thiện và ngọt ngào.

Thái Thanh, Ngọc Lan, Thanh Lam: 3 nữ danh ca tạo nên trường phái riêng trong nhạc Việt như thế nào? - Ảnh 3.

Ngọc Lan

Từ ngoại hình đã kéo theo chất riêng trong phong cách trình diễn, biểu cảm của Ngọc Lan trên sân khấu.

Trường phái Ngọc Lan gắn liền với thời kì đổi mới tân nhạc, đến như một cô gái tân thời, sẵn sàng rũ bỏ lối hát nảy chữ, khép tiếng, lối luyến láy truyền thống của dân tộc, từ bỏ luôn cả lối hát ỉ ôi của nhạc vàng để khoác lên mình những lối hát mới đầy hiện đại và hấp dẫn. Lối hát đặc trưng này được Ngọc Lan học hỏi từ nhạc Pháp, nhạc Anh, kết hợp với nhạc trữ tình, nên Đông - Tây kết hợp, vừa có chút cổ, lại không kém phần hiện đại, trẻ trung.

Được định hình để hát những bản tình ca mềm mại, trường phái Ngọc Lan tập trung vào lối hát hướng nội, quãng âm nhỏ nhẹ, ém kĩ thuật vào trong, dùng kĩ thuật để làm cho giọng hát tự nhiên nhất có thể, chứ không phải khoe toàn bộ kĩ thuật như các ca sĩ ngày nay vẫn làm. Bởi vậy khi nghe Ngọc Lan, chúng ta không bao giờ cảm thấy một kĩ thuật nào hết, chỉ còn cảm xúc và tâm hồn chạm đến trái tim. Đó mới là cái đích của âm nhạc.

Đặc trưng của trường phái Ngọc Lan là phẩm chất nữ tính. Ngọc Lan là một trong số ít nghệ sĩ nữ biết phát huy phẩm chất giới tính của mình vào nghệ thuật, dùng nó để phát triển lối hát mới - lối "hát điệu", rất phù hợp với những giọng light lirico soprano nhẹ nhàng, ngọt ngào.

Quả thực mà nói, hiếm có ca sĩ nào hát điệu đà như Ngọc Lan, ngọt như rót mật vào tai, mềm đến tận xương tủy. Để phát huy hết chất nữ tính, Ngọc Lan đã sử dụng "lối hát nhẹ" , tức là phát âm, nhả chữ ở mức nhẹ nhất có thể, tựa như gió thổi qua. Đây có lẽ là lối hát đặc biệt nhất của trường phái Ngọc Lan do chính cô tạo ra, chưa từng có ở các ca sĩ trước đây.

Nhờ lối hát này mà Ngọc Lan đã đốn gục biết bao trái tim si tình, biến nó trở thành vũ khí tối mật cho các giọng nữ, mà sau này đã được Như Quỳnh, Minh Tuyết, Y Phương... kế thừa thành công. Lối "hát điệu" này không phải cái điệu quá lố, mà là cái điệu được kiểm soát kĩ trong giọng hát và dồn nhiều kĩ thuật, giúp cho giọng hát của cô tự nhiên hơn, ngọt ngào hơn, cảm xúc hơn, như đang tự sự một câu chuyện tình vậy.

Chất "buồn" cũng là một trong những khuynh hướng riêng mà Ngọc Lan tạo nên cho trường phái của mình, đúng với phong cách cô mang. Ngọc Lan hát rất buồn, cái buồn trở thành bản chất cố hữu trong giọng hát, cách hát của cô, nên dù có hát những giai điệu uptempo vui tươi, nhanh mạnh thế nào thì vẫn cứ man mác buồn. Và, để cái buồn không bị sến, mà vẫn sang, Ngọc Lan đã khéo léo nhả chữ nhẹ nhàng, ấm áp, luyến vô cùng nhẹ, tạo nên sự mong manh, yếu đuối, cần được chở che.

Cũng như trường phái Thái Thanh, trường phái Ngọc Lan mang theo một "khí" rất riêng, mà dù có hát bất cứ ca khúc, của bất kì nhạc sĩ, dòng nhạc nào, cũng vẫn nổi lên cái "khí" đó, khiến khán giả cảm nhận được một cách rõ ràng.

Thanh Lam

Mỗi trường phái ca sĩ đều gắn với một giai đoạn, thời kì của âm nhạc. Qua Thái Thanh (trước 1975), Ngọc Lan (sau 1975), đến Thanh Lam (sau 1990), nhạc Việt đã trải qua ba thời kì với sự thay hình đổi dạng để được định hình một cách rõ nét hơn.

Được mệnh danh là "Nữ hoàng nhạc nhẹ", "Người đàn bà hát", Thanh Lam chính là nữ ca sĩ có công lớn nhất trong việc định hình nhẹ nhẹ Việt Nam giai đầu thập niên 90 đến sau này.

Thái Thanh, Ngọc Lan, Thanh Lam: 3 nữ danh ca tạo nên trường phái riêng trong nhạc Việt như thế nào? - Ảnh 4.

Sở hữu chất giọng nữ trung dày dặn, trầm ấm và nội lực, cùng trường hơi dài, khỏe khoắn, Thanh Lam có lẽ chính là người tiên phong cho việc sử dụng và sáng tạo lối hát cộng minh vào nhạc nhẹ Việt Nam, mở màn một lối hát mới - lối hát phô diễn giọng hát trên giọng ngực (thông qua cộng minh quãng trung), ở những khoảng âm to, dày, lớn cả về trường độ và cường độ, tràn đầy năng lượng.

Không những vậy, trường phái Thanh Lam còn đặc trưng bởi lối hát khắc khoải, ưu sầu, hát mà như thủ thỉ, tâm tình, đãi chữ dài hơn, hơi "rên rỉ" để bộc lộ nội tâm bùng cháy, bản năng của người phụ nữ, và kèm theo chất liêu trai, ma mị ở những quãng trầm bổng, luyến láy, nhưng vô cùng chắc chữ, rõ lời.

Chất "bản năng" và "cháy bỏng" là điều người ta thấy rõ nhất ở trường phái Thanh Lam, mà theo lời nhạc sĩ Dương Thụ là: "Một giọng hát mê hồn, cá tính táo bạo, bản năng nghệ sĩ thật sự... ".

Chính cái chất đặc trưng này khiến Thanh Lam nhiều khi "gào thét", nhưng cái "gào thét" đó lại quyến rũ được cả khán giả lẫn giới chuyên môn. Đi cùng với chất "bản năng", đặc trưng của trường phái Thanh Lam trong thập niên 90 (quãng thời gian cô tiên phong nhạc nhẹ) là những kĩ thuật rất "da màu", đậm tính Soul/R&B như vocal runs, riff...lần đầu tiên được đưa vào nhạc Việt, hát bằng tiếng Việt.

Khác với trường phái Thái Thanh hay Ngọc Lan vốn lợi thế cho nữ cao trữ tình, trường phái Thanh Lam chủ yếu "dung nạp" các giọng nữ trung, nữ trầm và giọng nam, để thể hiện chiều sâu qua các quãng trầm và quãng trung dày dặn.

Lối hát của Thanh Lam ảnh hưởng nhiều đến các thế hệ ca sĩ sau này như Ngọc Anh, Thu Phương, Mỹ Linh, Hà Trần, Hoàng Quyên, Đàm Vĩnh Hưng, Uyên Linh, Hà Linh... Trong đó, Uyên Linh, Hoàng Quyên là những ca sĩ đang đi theo trường phái của cô. Ngày nay, hễ có ca sĩ nào hát theo kiểu phiêu giọng khắc khoải, chất chứa tâm sự trên quãng trung, ta đều thấy bóng dáng của Thanh Lam ở đó. Số lượng những ca sĩ kiểu này rất nhiều, dễ chiếm đến 30% nền nhạc nhẹ Việt Nam, nên có thể thấy được tầm ảnh hưởng rất lớn của cô.

Ngày nay, cũng có khá nhiều ca sĩ trẻ có phong cách ấn tượng, chuyên môn vững vàng như Hà Trần, Tùng Dương, Thu Minh, Uyên Linh... Rất hi vọng những ca sĩ này có thể tạo nên trường phái nhạc của riêng mình trong tương lai.


Long Phạm

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng

 Thanh Lam được biết đến là một Diva lớn của nền nhạc nhẹ Việt Nam đương đại, đi tiên phong với nhiều cống hiến trong suốt hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, nữ ca sĩ này cũng là hiện tượng gây tranh cãi trong nhiều năm trở lại đây vì sự thay đổi trong cách hát để nên kịch tính, giằng xé và cao trào hơn. Điều này khiến cô nhận về không ít ý kiến trái chiều. Cần nhìn nhận một cách đúng đắn về năng lực và giọng hát của Thanh Lam.

Giọng hát khổng lồ với âm sắc hiếm có cùng lối diễn đầy đam mê, nhựa sống

Ở miền Bắc cách đây hơn 30 năm, người ta thường chuộng các giọng nữ cao trữ tình, có khả năng hát đẹp theo thanh nhạc chính thống. Nhưng Thanh Lam không phải "chim sơn ca" hay "chim họa mi" theo thẩm mỹ truyền thống đó, cô mang đến một giọng hát trần tục và phồn thực hơn.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 1.

Đó là tiếng hát của Người đàn bà đam mê tình ái và khát khao cuộc sống. Chính giọng hát này đã đem tới một màu sắc riêng biệt cho nhạc Việt và góp phần thay đổi thẩm mỹ âm nhạc của khán giả.

Bẩm sinh Thanh Lam sở hữu giọng nữ trung trữ tình rất sâu và dày, có độ solid đậm đặc, phát triển mạnh mẽ trên quãng trung và trầm. Không những vậy, âm sắc của Thanh Lam còn rất đẹp, nó tròn trịa, đầy đặc và ấm áp, không thể chê vào đâu được.

Giới chuyên môn nhận định, hiếm ca sĩ châu Á nào có "độ khè" đặc biệt trong giọng hát như Thanh Lam. Bởi thế, chỉ cần Thanh Lam cất giọng lên đã đủ khiến chị nổi bật hơn mọi ca sĩ khác hát chung, chứ chưa cần phô diễn kĩ thuật.

Bằng giọng hát đặc biệt này, Thanh Lam đã vượt qua nhiều ca sĩ tài năng như Hồng Nhung, Ngọc Sơn, Thu Phương, Bằng Kiều, Y Moan, Thùy Dung… để trở thành ca sĩ duy nhất đoạt giải Lớn (trên cả giải nhất) trong cuộc thi Đơn ca Nhạc nhẹ toàn quốc năm 1991 với số điểm tuyệt đối.

Như vậy, ngay từ thưở ban đầu, Thanh Lam đã tự khẳng định vị thế số 1 của mình trong làng nhạc nhẹ Việt Nam.

Ngay từ những bản live ở giai đoạn đầu sự nghiệp, dù còn rất trẻ, nhưng Thanh Lam đã tỏ rõ được chất giọng đặc biệt có một không hai của mình, không kém cạnh bất cứ ca sĩ quốc tế nào và vượt trội hơn hẳn các thế hệ ca sĩ Việt sau này.

Dường như nhận thức rõ được thế mạnh này của mình, Thanh Lam không chạy theo quãng cao như nhiều ca sĩ khác. Dù có thể scream tới C5, D5 và đỉnh điểm tới Eb7 (kỉ lục note cao ở Việt Nam) nhưng Thanh Lam lại tập trung vào quãng trung trầm (F3 – B4) và phát triển mạnh mẽ nó bằng kĩ thuật cộng minh sở trường, biến cô thành cơn lốc sân khấu đúng cả nghĩa đen lẫn bóng.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 3.

Theo nghĩa đen, giọng hát Thanh Lam giống như một người khổng lồ, tích hợp giữa âm lượng lớn, trường hơi khỏe, cột hơi vững chãi và kĩ thuật cộng minh đỉnh cao để đạt tới độ rền sẵn sàng lấp đầy cả sân khấu.

Theo nghĩa bóng, Thanh Lam hơn người chính ở bản lãnh sân khấu mạnh mẽ. Cứ mỗi khi cô bước ra là cả không gian phải nghiêng mình cúi đầu trước thần thái Diva, quyền lực toát ra ở mình, từ ánh mắt long lanh sắc lạnh đến nụ cười sảng khoái vương giả.

Không phải ca sĩ nào cũng có được cái thần thái sang chảnh, gai góc mà vẫn đậm đà quyến rũ như thế.

Không những vậy, phong cách trình diễn của Thanh Lam lúc nào cũng hừng hực đam mê, ngồn ngộn nhựa sống. Từng cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ của cô đều thở ra sự cháy bỏng, căng tràn. Chưa có nữ ca sĩ Việt Nam nào mỗi khi hát tới đoạn cao trào là lại ngửa toàn bộ cơ thể về phía sau để đưa cả khuôn mặt lên trời, dang rộng hai tay như muốn ôm cả sự sống rồi phát tiết ngùn ngụt qua giọng hát bão lửa của mình giống Thanh Lam.

Trong lối trình diễn này, Thanh Lam khá giống với Whitney Houston. Và có lẽ, cả Thanh Lam lẫn Whitney đều có chung một có chung một đặc điểm, dù hát về niềm vui hay nỗi buồn cũng không bao giờ bi lụy, mà vẫn luôn căng tràn đam mê, truyền lửa được tới người nghe để khiến họ phấn chấn hơn. Sự phấn chấn ấy, người ta gọi là đạt tới đẳng cấp tạo bão cảm xúc bằng giọng hát. Đó chính là cơn bão Thanh Lam tạo ra trên sân khấu, và cũng là nét chấm phá riêng trong trường phái mang tên mình.

Sự thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái hát riêng

Thanh Lam của ngày xưa là một Thanh Lam đằm thắm, xứng đáng với danh xưng Nữ hoàng nhạc nhẹ. Trong từng câu hát đều ẩn chứa biết bao nỗi niềm, khắc khoải đa đoan của nhiều kiếp người, kiếp tình.

Từ thời hoàng kim, cô đã tự tạo nên những đặc trưng cho trường phái của mình bằng lối hát khắc khoải, ưu sầu, hát mà như thủ thỉ, tâm tình, đãi chữ dài hơn, hơi "rên rỉ" để bộc lộ nội tâm bùng cháy, bản năng của người phụ nữ, và kèm theo chất liêu trai, ma mị ở những quãng trầm bổng, luyến láy, nhưng vô cùng chắc chữ, rõ lời.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 4.

Nói đến chữ "sâu" của cảm xúc, chắc chẳng mấy ai ở Việt Nam này đủ sâu và thẳm hơn Thanh Lam. Cô chơi đùa với từng con chữ trên từng phím nhạc mà vẫn đầy duyên dáng. Và điều đó đã khiến khán giả ngày ấy phải đội mưa đến nghe Thanh Lam hát.

Từ hồi rời Quốc Trung, Thanh Lam không còn dịu dàng, đằm thắm nữa. Giông bão cuộc đời đã khiến co trở nên mạnh mẽ và cuồng loạn hơn trong phong cách biểu diễn. Thanh Lam muốn tung ra tất cả những gì mình có để được cháy với đam mê của chính mình. Chị muốn hát như thể ngày mai sẽ không còn được hát nữa.

Chính điều này đã khiến nhiều người lên tiếng chỉ trích Thanh Lam là phá nát bài hát. Họ gọi cô là "nữ hoàng nhạc nặng"và không biết tiết chế.

Nhưng nếu tiết chế, để ý tới lời này ý nọ thì Thanh Lam đã không còn là mình. Bản năng và phô diễn mới là điều làm nên trường phái Lam, một nét riêng có trong âm nhạc. Ai đó cần sự tiết chế, nhẹ nhàng, mời nghe ca sĩ khác.

Trong nghệ thuật, mỗi trường phái có một tôn chỉ "cực đoan" riêng để duy trì sự sống còn của họ. Nhạt nhòa hay ngoan ngoãn không làm nên trường phái. Và mỗi nghệ sĩ cũng cần có một bản ngã của riêng họ, Thanh Lam cũng vậy.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 5.

Bản ngã của Thanh Lam là mạnh mẽ, cuồng nhiệt, đam mê, nó hợp với chất giọng nội lực của cô.

Một số khán giả không cảm thụ được vì họ quá quen với lối cũ, chứ không phải tại Thanh Lam. Ở Mỹ, những Patti Labelle, Aretha Franklin, Chaka Khan, Rachelle Farelle… vẫn thỏa sức thổi bay mọi thứ bằng sự phô diễn giọng hát của họ để trở thành tượng đài, nhưng tại Việt Nam lại quá mới mẻ. Là một nghệ sĩ, đẩy được cái tôi cùng mình đến cùng cực để đào sâu nghệ thuật mới là điều cốt lõi.

Bởi vậy, việc Thanh Lam rời Quốc Trung và đổi thay phong cách không phải dại như người ta nói, mà chỉ là dấu mốc để cô tô đậm hơn trường phái của mình với các dòng nhạc mới như dân gian đương đại, đẩy nó lên tới cực điểm.

Trong công cuộc khai phá những dòng nhạc mới, Thanh Lam từng được khen ngợi là nữ ca sĩ có kĩ thuật cộng minh tốt nhất nhạc nhẹ Việt Nam.

Dù lời khen đó không hẳn đã đúng, nhưng có lẽ, cô chính là người tiên phong cho việc sử dụng và sáng tạo lối hát cộng minh vào nhạc nhẹ Việt Nam, mở màn một lối hát mới - lối hát phô diễn giọng hát trên giọng ngực (thông qua cộng minh quãng trung), ở những khoảng âm to, dày, lớn cả về trường độ và cường độ, tràn đầy năng lượng.

Cách hát này giúp Thanh Lam thể hiện thành thần những ca khúc đòi hỏi tính sử thi, hùng tráng, với trường độ, âm lượng dồn dập của cả một dàn giao hưởng phía sau. Có lẽ, rất hiếm nữ ca sĩ nhạc nhẹ nào ở Việt Nam có thể làm được điều này.

Thanh Lam: Những bùng cháy dữ dội và thay đổi cực điểm để tạo nên trường phái riêng - Ảnh 6.

Trường phái Lam còn nổi bật ở lối đãi chữ bè dài kéo ra ê a kèm theo những đổ hột rất nhẹ, nghe rất đam mê, rất "đàn bà" và phồn thực, cuồn cuộn nhựa sống.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa Thanh Lam lúc nào cũng phô diễn bất chấp tất cả. Mỗi khi song ca, cô rất tôn trọng bạn diễn, luôn bè phối rất tinh tế, nhịp nhàng để nâng mình, nâng bạn và nâng cả âm nhạc lên. Bởi thế, Thanh Lam thường xuyên được các nghệ sĩ mời song ca, vì họ thích sự hòa quyện ở Diva này.

Trường phái Thanh Lam ngày nay đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều ca sĩ tại Việt Nam, đặc biệt là về kĩ thuật và lối hát. Đó thực sự là một trường phái đích thực và duy nhất trong nhạc nhẹ Việt đương đại.


Long Phạm